Cách số “Thất Sát triều đẩu” giúp vua Lê Đại Hành xuất thân bần hàn đạt đỉnh vinh quang

Cách số “Thất Sát triều đẩu” giúp vua Lê Đại Hành xuất thân bần hàn đạt đỉnh vinh quang

Lịch sử như một dòng chảy bất tận với các triều đại tiếp nối, những sự kiện, nhân vật… thật phong phú và đa dạng. Nhưng do độ lùi thời gian và hạn chế của việc biên chép, rất nhiều vấn đề vẫn còn những tồn nghi, tranh luận trong giới sử học. Điều đó tựa như những trầm tích, khuất lấp dưới đáy dòng chảy mà lớp hậu sinh có bổn phận tinh thần phải tiếp tục tìm hiểu, lý giải một cách xác đáng.

Cuộc đời và sự nghiệp vua Lê Đại Hành (941 – 1005) ở trong trường hợp như vậy. Việc kế thừa nhà Đinh với nghi án liên quan đến cái chết của Đinh Tiên Hoàng đế và Nam Việt vương Đinh Liễn; hay mối tình trai tài gái sắc đưa đến việc phong Hoàng Hậu cho Dương Vân Nga (vợ cũ của Đinh Tiên Hoàng); rồi phúc vận quá ngắn ngủi của nhà Tiền Lê… cũng là những tồn nghi với nhiều đánh giá, phẩm bình khác nhau cho đến tận ngày nay. Suy ngẫm và nghiệm lý lá số của vua Lê Đại Hành trong bối cảnh xã hội khi ấy, ta có thể sáng tỏ thêm nhiều điều.

Cách số “Thất Sát triều đẩu” đắc thời vận

Nếu phải cô đọng và tóm tắt Kinh Dịch trong chỉ 1 chữ, thì chữ ấy là chữ “THỜI”. Với 64 quẻ Dịch, người xưa đã quán thông thấu suốt 64 thời trong mối tương quan mật thiết “Thiên – Địa – Nhân”. Những bậc tuấn kiệt và thành công là người biết tri hành hợp nhất, tức là: đi với chữ “Thời” còn gắn với chữ “Dụng”.

Nhà Đinh lập quốc sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, nhà Tiền Lê kế thừa ngôi vị, nhà Lý dời đô ra đất Thăng Long, rồi đại nghiệp chuyển giao đến nhà Trần… Những lúc giao thời giữa các triều đại, chữ “Dụng” lại đóng vai trò cốt tử, mà ai nắm bắt và phát huy được nó sẽ dựng lên nghiệp lớn.

Vua Lê Đại Hành, có tên húy là Lê Hoàn, sinh đúng ngày Rằm tháng 7, năm Tân Sửu (941), giờ Dần. Gia cảnh bần hàn, đói khổ vì cha ông làm nghề đơm đó, bà mẹ thì quyét sân chùa, nương nhờ cửa Phật mà sinh sống. Dân chúng vùng Kẻ Sập (nay là xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa) vẫn lưu truyền câu “Cha đó cá, mẹ lá chùa” nói về sự xuất thân từ trong cảnh khốn khó ấy của đức vua.

Mở lá số của ông, thấy ngay đây là cách số “Thất Sát triều đẩu” của một dũng tướng bách chiến bách thắng, mang “võ cách” rất đặc trưng trong môn Tử Vi. Người Tân Sửu, có can Tân (Kim) được chi Sửu (Thổ) tương sinh, càng thuận cho người Thổ mệnh.

Cung mệnh đóng ở cung Ngọ, thuộc quẻ Ly, hướng chính Nam, gọi là Ngọ môn (cửa cung điện). Cung này thuộc dương Hỏa, phù sinh cho người mệnh Thổ – ấy là được “địa lợi”; tam hợp cung cũng là Hỏa (Dần – Ngọ – Tuất) sinh mệnh – ấy là đắc “thiên thời”.

Sao Thất Sát chủ mệnh là miếu địa, trấn cửa Ngọ môn, với cả cung Thân – Mệnh được bộ Sát – Phá – Tham (Thất Sát – Phá Quân – Tham Lang) tuyệt hảo với người Thổ mệnh, ấy là thêm “nhân hòa”. Tam hợp này đóng nhiều bộ trung tinh, cát tinh tốt, lại xa lánh được các sát tinh, thực là hiếm có. Nhưng cũng thật là điều trớ trêu của số phận, đây cũng chính là tam hợp Thiên Không.

Ông thừa dũng lược, khôn ngoan nhưng gặp thời phải có những quyết định và hành động mang tính bạo động, quyết liệt. Nếu mềm lòng thì không thành sự, còn nếu hành sự mà được việc thì dễ mang tai tiếng và dị nghị sau này.

Ông đã mang phẩm cách và chí khí của một người anh hùng không chấp nhặt chuyện tiểu sự, miễn là “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, còn mọi việc sau này “cái quan định luận” và lịch sử sẽ sáng tỏ một cách công bằng.

Ngoài gia cảnh xuất thân khốn khó, ông còn thiệt thòi vì mồ côi cả cha lẫn mẹ, bơ vơ từ năm lên 3 tuổi. Ấy là do cung Phụ Mẫu ở Mùi vô chính diệu, cung Tật Ách có bộ Nhật Nguyệt (tượng trưng cho cha, mẹ) gặp cùng lúc quá nhiều nghịch cảnh: bộ Hình – Riêu – Không – Kiếp oan nghiệt, cộng thêm  Tang Môn và bộ Thiên Hư – Tuế Phá.

Cũng may, do cung mệnh có sao Dưỡng, Hóa Khoa và bộ Thiên Khôi – Thiên Việt mà ông được nhận làm con nuôi, được cho ăn học và yêu thương như con đẻ. Ấy chính là bối cảnh hơn 20 năm đầu đời, vào các đại vận ở cung Ngọ, Tỵ đều thuộc Hỏa, tương sinh mệnh Thổ, ông có “quý nhân phù trợ” nên gặp rủi hóa may là thế.

Xem cung an Thân của ông mới có nhiều điều đáng nói, cả vinh quang và khúc mắc, dị nghị. Cung này ở Tuất, đồng cung Quan Lộc và đóng sao Phá Quân, ứng vào câu sách nói: “Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất”, vậy có phải thế không?

Danh nhân xưa nay, nếu chẳng may gặp phải cách này, ai cũng phải chịu phán xét búa rìu của lịch sử, bởi ranh giới giữa chuyện “phản nghịch” hay “cách mạng” nhiều khi chỉ là chân tơ kẽ tóc. Đối với Lê Hoàn, với Phá Quân đi cùng Kình Dương (chủ cho vũ dũng, sát phạt) và sao Tử (chỉ sự che giấu, bí mật, âm mưu), lại càng dễ tưởng như vậy.

Thực ra, với người mệnh Thổ, an Thân ở cung Tuất (Thổ) là được địa lợi, trong cái thế mượn gió phất cờ mà thành đại nghiệp; còn sao Phá Quân (thuộc Thủy) bị mệnh Thổ khắc, cung mệnh lại có Hóa Khoa, nên ông chẳng mấy chịu ảnh hưởng xấu của sao này. Cũng vì thế, những điều ông đã phải gánh chịu, bị sử sách sau này phê phán có những ẩn tình sâu kín đời sau khó thấu hiểu!

Xét vòng Đại vận, từ 24 – 33 tuổi ông vào cung Thìn (thổ), là “Long cung”, có bộ Tử Vi- Thiên Tướng gặp cả Tuần lẫn Triệt. Với người mệnh Thổ, cung này chính là đất của mình nên thăng tiến rất nhanh, quyền lực của ông có lúc lấn át cả vua.

Năm 30 tuổi, ông được Đinh Tiên Hoàng đế phong làm Thập đạo Tướng quân, Điện Tiền đô chỉ huy sứ – tức là Tổng chỉ huy quân đội và nắm hết binh quyền của nước Đại Cồ Việt, cả lực lượng cấm vệ trong cung thất nhà Đinh.

Mùa thu năm Kỷ Mão (979), hai cha con vua Đinh bị sát hại, nội vụ có nhiều điều mờ ám mà có sách sử quy cho Lê Hoàn đứng đằng sau. Ông được Thái hậu Dương Vân Nga giao làm Nhiếp chính, giúp cho vua mới Đinh Toàn, lúc ấy chỉ là đứa trẻ 6 tuổi.

Thời gian ấy chính là Đại vận 34 – 43 tuổi của ông, ở cung Mão (mộc), có bộ Thiên Cơ – Cự Môn phùng Hóa Lộc – Thiên Hình, trong cái thế trong ngoài đều bị động, muốn lật lại thế cờ nhất thiết phải dùng bàn tay sắt.

Khi ấy, khí chất của người Thất Sát – Thiên Hình trỗi dậy: các đại thần nhà Đinh như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp cho rằng Lê Hoàn mưu đồ tiếm ngôi nên kéo quân bao vây kinh thành nhưng đều bị ông giết chết, quân quyền tan tác cả.

Phò mã nhà Đinh là Ngô Nhật Khánh trốn vào Nam, nhờ vua Chiêm cùng hơn nghìn chiến thuyền định phục thù, nhưng gặp bão tố ngoài biển Đông nên không đánh mà tan.

Sự rối ren triều chính đã làm dã tâm xâm lược của vua nhà Tống trỗi dậy. Tháng 6 năm 980, chúng hội binh hai đường thủy bộ ráo riết chuẩn bị tiến đánh nước Việt.

Trong hoàn cảnh nguy cấp ấy, Lê Hoàn được Dương Vân Nga và các tướng lĩnh tâm phúc tôn xưng làm Hoàng Đế, mở ra triều Tiền Lê; còn Đinh Toàn bị giáng làm Vệ vương và nhà Đinh chấm dứt. Đó là vào tháng 7 năm Canh Thìn (980), vào cuối Đại vận 34 – 43 tuổi, cũng đúng vào tiểu vận ở cung Tuất, có bộ Phá Quân – Kình Dương đầy vũ dũng nhưng cũng lắm dị nghị như đã nói ở trên.

Lẫy lừng chiến công phá Tống, bình Chiêm

Cuối xuân năm Tân Tỵ 981, vua Lê Đại Hành đích thân chỉ huy quân dân ta chống giặc Tống xâm lược. Chỉ trong vòng 1 tháng, hai mũi tiến công thủy bộ của giặc cùng bị bẻ gãy tại sông Bạch Đằng và ải Chi Lăng.

Ta chém đầu tướng Hầu Nhân Bảo, bắt sống nhiều tướng lĩnh nhà Tống đem về Hoa Lư xử tội. Quân Tống chết đến quá nửa, lũ tàn binh lê lết được về nước cũng bị vua Tống trút giận mà trừng trị nặng nề: chém bêu đầu Vương Soạn, Tôn Toàn Hưng ở giữa chợ, tướng Lưu Trừng thì bị đòn, quá hoảng sợ phát bệnh mà chết.

Sang đến năm 982, cũng chính ông cầm quân đánh Chiêm Thành, chém đầu vua Chiêm, khai mở đất từ phía nam châu Ái (Thanh Hóa) đến địa phận núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh). Đây là cuộc mở cõi đầu tiên của tổ tiên ta về phương Nam.

Chiến công dẹp tan quân Tống xâm lược đã khẳng định tính chính danh đối với vương vị của Lê Đại Hành. Nhưng ông cũng gặp 10 năm khó khăn gian khổ để củng cố cho nhà Lê (từ 44 – 53 tuổi) ở cung Dần (dương Mộc) khắc mệnh Thổ.

Phải đến Đại vận cuối đời (54 – 63 tuổi) vào Đại vận Thái Tuế mới là thời ông đắc cách nhất để thực thi những dự định hưng quốc, an dân của mình. Tiếc rằng với cung Phúc Đức ở Thân (dương Kim), có sao Liêm Trinh phạm nhiều sát tinh, trong thế “cát hung tương bán” nên con cháu ông không có người đủ tâm và tài kế thừa Đế nghiệp. Bởi thế, nhà Tiền Lê là một trong những triều đại tồn tại ngắn ngủi nhất trong lịch sử.

Lê Đại Hành Hoàng đế là bậc anh hùng mở ra triều đại Tiền Lê, với võ công oanh liệt chống ngoại xâm, hộ quốc an dân, giữ vững nền độc lập và chủ quyền quốc gia.

Sau này, sử gia Phan Huy Chú trong tác phẩm “Lịch triều hiến chương loại chí” đã ca ngợi: “…Vua phá Tống, bình Chiêm, khiến cho cả Hoa Hạ và Man di đều sợ hãi. Nói về việc trị nước, nhà Vua luôn chăm lo đến những gì dân cần, dốc lòng lo chính sự, trọng nông nghiệp, cẩn trọng nơi biên cương, quy định pháp chế rõ ràng…”.

Sinh ra trong bần hàn và nghèo khó mà vươn tới tột đỉnh vinh quang, uy vọng và danh tiếng còn mãi đến ngàn thu, ấy là phẩm cách và chí khí của ông, người mang cách số “Thất Sát triều đẩu” mà đắc thời, gặp vận.

Chuyên gia tử vi Thiên Lương:

Theo Báo Người Giữ Lửa

(Visited 17 times, 1 visits today)

Leave a Reply