Chuyện thầm kín sau lũy tre làng: Vương vấn tơ lòng

0
73
Đêm trước ngày tôi trở lại mặt trận, máy bay địch thả đèn dù sáng trắng dọc con sông Lê. Tiếng động cơ phản lực gầm rú. Tiếng bom đạn rung chuyển cả mặt đất. Trống làng đánh ngũ liên, nghĩa là cả làng phải ra sông cấp cứu các thủy thủ bị thương.

Bốn con tàu bị máy bay địch đánh chìm. Khi tôi chạy tới thì các thủy thủ đang cõng những người bị thương lên bờ. Tôi băng bó cho họ để đội nữ dân quân cáng họ về trạm xá. Tuy đang mang thai nhưng Vinh cũng tham gia khênh cáng thương binh. Tôi hỏi Vinh: “Chồng em đâu?”. “Đang rúc hầm. Hèn lắm”.

Khi một người vợ trẻ nhận xét về chồng mình như vậy thì có nghĩa là gia đình không hạnh phúc. Đây là điều tôi lo nhất cho Vinh. Lúc nào tôi cũng cầu mong Vinh được hạnh phúc.

Nghe nói chồng Vinh là hiệu phó của trường cấp II. Vợ là giáo viên, chồng là hiệu phó, họ luôn gần gũi nhau, là đồng nghiệp của nhau nên dễ hiểu, dễ thông cảm cho nhau. Nhưng ở đời lại có những điều không thể nào thông cảm được, đó là nhân cách.
 

Chuyện thầm kín sau lũy tre làng: Vương vấn tơ lòng
Mọi người nói, chồng Vinh hèn nhát trốn đi lính vì sợ chết (Ảnh: ST)
Nhiều người còn nói rằng anh chàng Hiệu phó này đeo kính cận để không phải đi bộ đội và không phải tham gia vào những việc cứu người, cứu hàng nguy hiểm như đêm nay chứ thật ra anh ta không bị cận. Nếu đúng như thế thì đây là nỗi buồn lớn nhất của Vinh, vì em phải sống chung với con người đó không chỉ một vài ngày, một vài năm.

Sáng hôm sau tôi trở lại mặt trận. Khi chào mẹ ra đi, tôi chợt trông thấy một vũng sáng trên mái tranh. Mái nhà của mẹ bị dột, vậy mà tôi không kịp đan tranh để lợp lại mái nhà cho mẹ. Làng tôi nghèo lắm, hàng trăm hộ mà chỉ có 4 ngôi nhà ngói. Còn lại là nhà tranh. Mái rạ chỉ ít tháng là bị dột.

Những đêm mưa to, mẹ nằm chỗ dột, dành chỗ giường khô cho tôi. Ngay từ khi còn bé, tôi đã bị ám ảnh về mái tranh dột nát. Và không biết bao nhiêu lần tôi đã mơ thấy mình làm cho mẹ được một ngôi nhà ngói. Vậy mà bây giờ điều đó vẫn chỉ là giấc mơ, cho dù tôi đã là một sĩ quan quân đội.

Tôi trở lại đơn vị, đến một mặt trận khác. Còn sau lưng tôi cũng là một mặt trận khác, một mặt trận toàn đàn bà, những người như mẹ tôi và Vinh.

Từ Quảng Nam, đơn vị tôi quay ra Quảng Trị, bắt đầu 81 ngày đêm chiến đấu cực kỳ quyết liệt để giữ thành cổ. Ta và địch dành nhau từng tấc đất, từng khoảng trời. Bom đạn giặc vãi như mưa. Từng tấc đất Quảng Trị đầm đìa máu. Vậy mà cho tới khi ký hiệp định Paris, tôi vẫn sống và vẫn nguyên vẹn. Câu hát tếu táo của lính chống Mỹ với tôi trở thành sự thật – “Anh vẫn còn chân. Chưa bị cưa chân nào…”.

Rồi chúng ta giải phóng Sài Gòn và tôi được nghỉ một cái phép rất dài, gọi là phép chiến thắng. Ngồi trên xe vận tải quân sự ra Bắc, trong đầu tôi có 2 mục tiêu rất rõ ràng là cưới vợ và làm nhà.

Đời người đàn ông có 3 việc lớn phải lo là học nghề, cưới vợ, làm nhà. Binh nghiệp cũng là một nghề và với nghề này tôi thuộc loại giỏi rồi, không cần phải học nữa. Còn việc cưới vợ cũng không khó lắm.

Đúng như mẹ tôi đã nói: “Gái làng mình thiếu gì”. Lấy vợ làng có thể bỏ qua giai đoạn tìm hiểu. Bố mẹ, ông bà của người ta như thế nào thì mình cũng đã biết từ lâu rồi. Còn nết ăn, nết ở thì mẹ đã tìm hiểu cho rồi.

Mẹ kể rằng những ngày vắng tôi có cô Thư đêm nào cũng sang chơi và ngủ với mẹ, nếu không thì buồn lắm. Như thế là mẹ đã chọn rồi, tôi chỉ việc tổ chức cưới nữa thôi. Việc cuối cùng là làm nhà.

Ngày đó cái gì cũng phải mua bằng tem phiếu, gạch ngói làm nhà cũng phải được xã phân phối cho mới mua được. Tôi là bộ đội về phép, được ưu tiên hàng đầu, gạch ngói, xi măng, tre gỗ, tôi đều được xã bán cho hết. Giấc mơ từ ấu thơ giờ được thực hiện trọn vẹn chỉ trong 60 ngày.

Hôm tôi tổ chức mừng nhà mới, Vinh cũng đến. Em giúp mẹ tôi và Thư nấu nướng, tiếp khách. Mọi người đều vui, Vinh cũng vui. “Anh được như thế này em mừng lắm!” Vinh nói như vậy.

Khi còn chiến tranh, ai cũng mơ ước hòa bình. Nhưng cuộc sống của người lính thời bình lặng lẽ lắm. Buổi sáng tập trung đọc báo. Tờ Quân đội nhân dân đọc từ bài đầu đến mẩu tin cuối cùng. Rồi tập đội ngũ, nghiêm nghỉ, đi đều. Tối thì học 12 bài hát quy định. Bộ đội chỉ hát 12 bài đó thôi, không hát những bài khác. Ngày nào cũng như vậy, tháng nào cũng như vậy.
 

Chuyện thầm kín sau lũy tre làng: Vương vấn tơ lòng
Hòa bình lập lại, tôi lao vào viết văn, trong văn tôi lúc nào cũng có hình bóng em (Ảnh: ST)
Tôi giết thời gian nhàn rỗi bằng cách vào thư viện đọc sách. Rồi tôi viết văn, viết như điên, tuần nào cũng bị phê bình về tội thức khuya quá. Nhưng viết văn là công việc mà tôi say mê nhất. Mọi tác phẩm tôi viết ra đều được in trên báo Văn Nghệ. Thật ra thì tôi đang cày xới chính mình. Trong các tác phẩm của tôi đều có bóng dáng của mẹ và Vinh.

Vinh viết thư cho tôi: “Đọc báo Văn Nghệ, em không sao cầm nổi nước mắt. Anh viết xúc động quá. Hóa ra anh chưa quên em”. Tôi quên Vinh sao được. Hình ảnh người con gái đầu tiên in vào tâm hồn trong trẻo của tôi là Vinh. Em choán hết trái tim tôi, không còn chỗ cho bóng dáng một ai khác.

Có một nhà tâm lý học đã viết rằng: “Đàn ông cho tình yêu để được tình dục. Còn đàn bà cho tình dục để được tình yêu. Vì thế, nhiều khi đàn ông không biết mình đã yêu ai và đàn bà không biết rằng ai đã yêu mình”. Nhưng tôi không phải như thế.

Tôi không cho tình yêu để được tình dục. Và Vinh cũng không cho tôi tình dục để được tình yêu. Giữa tôi và Vinh chỉ có tình yêu thôi, một thứ tình yêu trong ngần, sáng và ấm như lửa.

Rồi nhà thơ Dương Kỳ Anh đến thăm tôi: “Nghe nói anh xin ra khỏi quân đội, đúng không?”. “Đúng thế. Sống trong doanh trại như thế này không hợp với tôi”. “Đơn vị có đồng ý không?”. “Chắc là đồng ý”. “Nếu được ra ngoài thì mời anh về báo Tiền Phong nhé!”.

Và thế là tôi bỏ binh nghiệp để chuyển sang một môi trường khác sôi động hơn, cũng nguy hiểm hơn. Nhưng không hề gì. Nguy hiểm vốn là môi trường quen thuộc của tôi.

Thư ra Hà Nội thăm tôi và chất vấn: “Dạo này anh viết nhiều và chuyện nào cũng thấy có chị Vinh. Sao anh viết về chị ấy nhiều thế?”. “Cả mẹ nữa chứ. Anh viết về mẹ nhiều hơn”. “Anh viết về mẹ bao nhiêu cũng được, nhưng không nên viết về chị Vinh nhiều như thế”. “Anh đang viết về kỷ niệm mà. Kỷ niệm ai chả có và vô hại”.

“Không vô hại. Đọc báo lần nào chị Vinh cũng khóc. Còn chồng chị ấy thì đem báo xé đi, đốt đi. Hai vợ chồng ngày nào cũng cãi nhau. Và họ ra tòa ly hôn rồi. Anh về mà ôm lấy người yêu của anh”.
 

Chuyện thầm kín sau lũy tre làng: Vương vấn tơ lòng
Nghĩ về Vinh, tôi bỗng thấy miên man, rối bời (Ảnh: ST)
Câu cuối cùng, giọng Thư ngàn ngạt trong nước mắt. Tôi ôm vợ chặt hơn. “Em chưa thật sự hiểu anh. Chúng ta đã có một gia đình yên ấm. Anh là người biết sống tự tin và tự chủ, biết quý từng phút giây hạnh phúc bên em và con. Nhưng kỷ niệm vẫn là kỷ niệm. Nếu anh có thể quên kỷ niệm thì đến một lúc nào đó anh có thể quên tất cả. Và như thế chắc em còn buồn hơn”.

Suốt đêm đó, tôi cứ nghĩ mãi về Vinh. Ngay trong đêm đi cứu người, cứu hàng trên sông Lê, Vinh đã nói về chồng bằng một giọng gay gắt: “Đang rúc hầm. Hèn lắm!”. Câu nói đó đã gieo vào lòng tôi một nỗi lo sợ và dự báo một kết cục tồi tệ.

Và điều dự báo đó giờ đã thành hiện thực. Vinh đã ly hôn. Chắc giờ Vinh đang sống trong cô đơn và đau khổ. Nhưng tôi không thể làm gì để Vinh vượt qua được sự đổ vỡ này. Triết lý của tôi là mọi nỗi đau đều phải tự vượt qua. Nhưng đó là tôi, một người lính từng qua trăm trận đánh. Còn Vinh là phụ nữ.

Em nhỏ bé và mềm yếu thế, làm sao tự vượt qua được nỗi đau này? Tôi sửng sốt khi thấy mình nằm bên vợ mà vẫn miên man nghĩ về Vinh. Chao! Cái sợi tơ lỏng sao mà vương vấn và hay rối bời thế!

Hết

Theo Báo Người Giữ Lửa

Gửi phản hồi