Cuộc trò chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh về “Hạnh phúc đích thực” (Kỳ 27)

0
48

 – Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Xin thiền sư chia sẻ một vài phương pháp cụ thể để giúp tái lập truyền thông giữa cha mẹ – con cái, giữa vợ – chồng, giữa mình với tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh!

 
– Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Chúng tôi đã sáng tạo ra phương pháp thực tập “Ba cái lạy và năm cái lạy” dành cho người Tây phương để giúp họ móc nối được với tổ tiên huyết thống. Họ đã tích cực thực tập và chữa trị được nhiều nỗi cô đơn, bức xúc, thiết lập lại truyền thông với truyền thống, với gia đình. 
Bạn hãy tưởng tượng một khu đồi rất lớn, 5.000 người châu Âu thực tập quỳ lạy dưới sự hướng dẫn của một sư thầy gốc Việt Nam, đầu, hai tay, hai chân của họ dính vào đất, chúng tôi gọi là “ngũ thể đầu địa”. Họ buông xả hết những giận hờn, tuyệt vọng để cho đất mẹ ôm ấp lấy. Họ nằm trong tư thế phủ phục 2-3 phút để quán chiếu, để thấy rõ ràng rằng: họ có gốc rễ và họ tiếp xúc được với tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống. Và khi đứng lên, họ đã trở thành một con người khác. 
 
Cuộc trò chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh về “Hạnh phúc đích thực” (Kỳ 27)
Họ nằm phủ phục 2-3 phút buông xả hết những giận hờn để tiếp xúc với tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống

– Phương pháp thực tập “ba cái lạy và năm cái lạy” mà thiền sư chế tác có bắt nguồn từ Phật giáo?
 
– Chúng tôi đã chế biến nghi thức này từ trong kho tàng giáo lý đạo Phật. Bên cạnh đó, chúng tôi còn sáng tác ra lời cầu nguyện đầu năm cho người Tây phương vào ngày Tết dương lịch. Thay vì mở nút chai Champagne và chơi nhạc, họ có thể đốt hương, đứng chắp tay trước bàn thờ tổ tiên, đọc bài cầu nguyện và hứa với tổ tiên là trong năm mới sẽ sống một cuộc sống vững chãi hơn, thảnh thơi hơn, sẽ thương yêu nhau nhiều hơn và chấp nhận, tha thứ cho nhau. Đó là thứ truyền thông giúp cho tinh thần chúng ta được khỏe mạnh, không lâm vào tình trạng mất gốc và phóng thể. Chúng ta như là cây có gốc, sông có nguồn, sẽ không bao giờ đánh mất mình và luôn mang tổ tiên đi vào tương lai. 
 
– Theo thiền sư, tổ tiên huyết thống nằm trong từng tế bào cơ thể mình. Vậy tổ tiên tâm linh nằm ở đâu? Ở trong mình hay ở cõi cao siêu, huyền bí nào? 
 
– Trong Cơ-đốc giáo cũng như trong đạo Bụt, đối tượng mà chúng ta cầu nguyện đang nằm ở trong ta chứ không phải ở ngoài ta. Bụt và Thượng đế đều nằm trong trái tim ta. Nghĩ rằng Bụt và Thượng đế ở ngoài ta là một sai lầm, không phải chỉ sai với giáo lý đạo Bụt mà còn sai với Kinh Thánh của đạo Cơ-đốc nữa. 
 
– Vậy làm thế nào để ta chạm tới được Thượng đế? Làm thế nào để ta gởi được cái năng lượng của ta về Thượng đế, xúc tác được với năng lượng của Thượng đế và để cho cái năng lượng vô cùng vô biên đó chuyển hóa tình trạng của ta?  
 
– Người thương của chúng ta đang bị đau khổ, hiểm nguy. Chúng ta cần bao bọc, che chở họ bằng những năng lượng lành để họ đủ sức vượt qua cơn hiểm nguy cho nên chúng ta mới cầu nguyện. Khi cầu nguyện, muốn chạm tới được Thượng đế, chúng ta có thể dùng một trong ba chìa khóa, đó là Vô thường, Vô ngã và Niết bàn. 
 
Ai mà không chấp nhận sự thật vô thường? Người đạo Bụt chấp nhận vô thường mà người đạo Chúa cũng chấp nhận vô thường. Nhờ vô thường mà mọi thứ đều trở nên có thể! Vô ngã là một mặt khác của vô thường. Sự vật là vô thường, biến chuyển và không có một thực thể riêng biệt, một cái ta độc lập.

Chúng ta đã học rằng người cầu nguyện và người được cầu nguyện đều không có một cái ta riêng biệt. Thượng đế có đó vì ta có đây. Nếu không có ta ở đây thì làm sao ta biết rằng Thượng đế có đó? Cho nên cái nguyên tắc vô ngã này là một chìa khóa rất mầu nhiệm, nó mở ra cho chúng ta những cánh cửa rất lớn. 

 
Chìa khóa thứ ba là Niết bàn. Niết bàn là gì? Niết bàn có phải là một thực thể tách biệt ra khỏi thế giới sanh tử mà chúng ta đang sống đây hay không? Niết bàn và sanh tử có phải là hai cái biệt lập hay không? Theo cái chìa khóa thứ hai thì Niết bàn và sanh tử, tuy gọi là hai nhưng kỳ thực là một.

Cũng như sóng và nước. Sóng khác với nước. Nhưng ngoài sóng không có nước, ngoài nước không có sóng. Vì vậy cho nên đứng về phương diện hiện tượng thì chúng ta gọi nó là thế giới sinh tử, nhưng đứng về phương diện bản chất thì chúng ta gọi nó là Niết bàn. 

 
Chúng ta hãy nhìn sâu hơn để biết làm thế nào mà tiếp xúc được với Thượng đế. Nhiều nhà thần học Ki-tô giáo nói rằng: Thượng đế là nền tảng của hiện hữu. Một trong những người đó là Paul Tillich – thần học gia người Đức. Theo định nghĩa đó, nếu Thượng đế là bản chất của hiện hữu, là nền tảng của hiện hữu thì hiện hữu là gì? Hiện hữu là những sáng tạo phẩm của Thượng đế. Như vậy thì làm thế nào để tiếp xúc với Thượng đế nếu ta không tiếp xúc được với tạo vật? 
Chúng ta có hai chữ Creator là tạo hóa và Creature là tạo vật. Chúng ta chỉ có thể tiếp xúc được với Thượng đế qua tạo vật mà thôi. Cũng như chúng ta chỉ tiếp xúc được với nước qua sóng. Cho nên trong khi cầu nguyện, chúng ta có thể tiếp xúc với thế giới hiện tượng.

Hiện tượng nào cũng mang theo bản chất ở trong nó.  Nếu chúng ta biết tiếp xúc sâu sắc và nhận diện cái tính cách vững chãi, thảnh thơi và mầu nhiệm của những hiện tượng đó thì qua thế giới hiện tượng, chúng ta có thể tiếp xúc được với thế giới của bản thể, thế giới của niết bàn, của Thượng đế. 

 
– Tại sao có những người cầu nguyện không được thành công, thưa thiền sư?
 
– Tại phẩm chất của sự cầu nguyện còn yếu kém. Ở đây, tôi  không nói phẩm chất của lời cầu nguyện mà nói phẩm chất của sự cầu nguyện. Tại vì cầu nguyện theo đúng phương pháp là thân, khẩu, ý phải hợp nhất. Cho nên đây không phải chỉ là lời cầu nguyện mà là tâm cầu nguyện.

Bởi vậy, đừng đi tìm một Thượng đế trừu tượng, đừng cầu nguyện Thượng đế như một ý niệm trừu tượng. Đó là điều rất quan trọng. Phải đến với Thượng đế qua những gì rất cụ thể. Đó là những biểu tượng của Thượng đế trong thế giới hiện tượng. 

Con người cũng có chất thánh của Thượng đế và cũng cùng chia sẻ cái bản chất thánh thiện đó. Cầu nguyện bao giờ cũng có kết quả nhưng cái mức thành công của sự cầu nguyện khác nhau. Khi câu trả lời là "không" thì chưa chắc đã là không có hiệu quả! Đã có hiệu quả rồi, nhưng mình không thấy được, cho nên mình cho là không đấy thôi. Tại vì mình đâu biết được cái nhu yếu đích thực của mình? Trong khi đó thì cái Tâm thức cộng đồng, cái Nhất tâm hay là Thượng đế, biết rõ hơn mình, biết cái gì tốt cho mình hơn. 
 
– Trong cầu nguyện, muốn thành công, đức tin rất quan trọng. Nhưng đôi khi, đức tin lại dễ trở thành mê tín. 
 
– Nguồn năng lượng thứ nhất là đức tin (tín). Có đức tin chúng ta sẽ có sức mạnh. Trong Thánh kinh, Chúa Jesus nói rằng người có đức tin có thể di chuyển cả trái núi. Tuy nhiên, chữ tín ở đây nên dịch là “tự tin”, “tin cậy” thì hay hơn, bởi vì đó là một nguồn năng lượng ở trong ta chứ không phải hướng ra bên ngoài. Tổ Lâm Tế từng nói: “Quý vị thiếu tự tin, cho nên cứ mãi rong ruổi hướng ngoại tìm cầu. Quý vị phải tin rằng quý vị có khả năng thành Bụt, có khả năng giác ngộ, thoát ly phiền não”. 
 
Tín là tin rằng có một con đường đưa ta tới tự do, giải thoát và chuyển hóa phiền não. Nếu thấy được con đường và đi theo, ta sẽ có quyền lực. Những người không có đường đi thì cứ luẩn quẩn, loanh quanh mãi. Họ đau khổ, họ không biết phải đi về đâu. Bạn cũng từng tìm kiếm một con đường và bây giờ bạn tìm ra con đường ấy. Vậy là bạn đã thấy được đạo rồi. 
Nếu chứng nghiệm ít nhiều rằng: Con đường ấy dẫn tới một cuộc sống tốt lành thì bạn sẽ khởi lòng tin. Bạn sẽ rất sung sướng thấy là mình đã có một con đường và khi ấy, bạn bắt đầu có quyền lực. Quyền lực này sẽ không gây tác hại cho bạn hay những người xung quanh, trái lại, đem tới cho bạn sức mạnh và năng lượng mà ai cũng có thể cảm nhận. Khi có lòng tin thì mắt bạn sáng ngời và bước chân bạn đầy tự tin. Đó chính là quyền lực. Bạn có thể phát huy quyền lực ấy từng giây phút mỗi ngày. Nó sẽ đem lại cho bạn rất nhiều hạnh phúc. 
 
– Như vậy, đức tin phải được khởi phát từ nội tại trong ta, thưa thiền sư? 
 
– Nếu một pháp môn thực tập đem lại kết quả, giúp ta thêm chánh niệm, định lực và niềm vui thì niềm tin của ta sẽ bắt nguồn từ đó chứ không phải do một người khác mách bảo. Đức tin này không phải là tin vào lời nói suông mà là tin vào kết quả cụ thể của sự thực tập. Khi bạn thực tập hơi thở chánh niệm thành công, bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhàng, vững chãi, thảnh thơi và lòng tin sẽ phát sinh từ kinh nghiệm đó. Đây không phải là mê tín, cũng không phải là nhờ cậy vào một ai khác. 
Năng lượng của niềm tin đem lại cho bạn rất nhiều hạnh phúc. Nếu không có niềm tin, không có năng lượng của sự tự tin thì bạn sẽ đau khổ. Nhìn kỹ, ta sẽ thấy rằng năng lượng của sự tỉnh thức, từ bi và trí tuệ đã có sẵn trong ta. Thấy được năng lượng ấy đang tiềm tàng và là một phần của con người ta thì ta sẽ tin tưởng vào nguồn năng lượng này. Nếu biết cách thực tập, ta sẽ chế tác được năng lượng của tỉnh thức, từ bi và trí tuệ để tự bảo vệ mình và giúp thành công trong mọi việc.
 
Nhà báo Hoàng Anh Sướng

Nhà báo Hoàng Anh Sướng:

Theo Báo Tuổi trẻ & Đời sống

Gửi phản hồi