Cuộc trò chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh về “Hạnh phúc đích thực” (Kỳ 17)

0
44

 – Nhà báo Hoàng Anh Sướng:  Khi đau khổ, ta thường nghĩ rằng khổ đau của mình là do người khác gây ra nên chúng ta thường trách móc, hờn giận, thậm chí căm thù và muốn trừng phạt. Nhiều người trong chúng ta không biết cách xử lý khổ đau cho nên chúng ta luôn gây khổ đau cho chính bản thân và cho những người xung quanh. Đó cũng chính là nguồn cơn của những bạo động, căm thù, của máu và nước mắt. 

– Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Những người như vậy chưa từng có cơ hội được nghe giáo pháp của Đức Thế Tôn để biết cách lắng nghe sâu và hiểu được khổ đau của chính mình. Chúng ta là người đã biết về pháp môn và đã thực tập, vì vậy ta sẽ là người đầu tiên giúp họ. Khi quán chiếu một cách sâu sắc, ta thấy rằng: Người đó đang có đầy khổ đau trong lòng và không biết phải xử lý như thế nào. Họ đang là nạn nhân của khổ đau nơi chính mình. Bởi vậy, họ cần được giúp đỡ chứ không đáng bị trừng phạt. Nếu chúng ta có thể hiểu được khổ đau của chính mình và của người khác thì ta sẽ không còn có ý định trừng phạt ai cả mà chỉ muốn giúp đỡ họ mà thôi.

Cuộc trò chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh về Hạnh phúc đích thực (Kỳ 17)

Rất đông trẻ em được cha mẹ đưa đến tu tập tại làng Mai

– Trở lại việc hàn gắn quan hệ giữa hai nhóm người Palestine và Israel mà thiền sư đã tổ chức rất thành công tại làng Mai. Thiền sư đã rút ra được bài học gì?

– Chúng tôi đã học hỏi được rất nhiều khi giúp những người Palestine và Israel xích lại gần nhau. Tôi tin rằng khi sử dụng những giáo lý và phương pháp Bụt dạy, chúng ta có thể giúp mọi người hòa giải với nhau, đóng góp vào sự hòa hợp và thống nhất của quốc gia.

Trong đạo Bụt, có một giáo lý gọi là vô phân biệt. Theo giáo lý này, trong tình thương chân thật không còn tồn tại bất kỳ sự phân biệt nào. Khổ đau, hạnh phúc của mình cũng là khổ đau, hạnh phúc của người. Trong tình thương chân thật, không còn tồn tại hạnh phúc, khổ đau của cá nhân.

Khi tôi nhìn vào bàn tay phải, tôi có thể thấy trí tuệ vô phân biệt. Bàn tay phải của tôi chưa bao giờ kỳ thị bàn tay trái bởi nó đã vượt thoát khỏi những mặc cảm hơn, kém và bằng. Bàn tay phải đã giúp tôi viết các bài thơ, viết thư pháp. Tuy vậy, bàn tay phải không cảm thấy mình quan trọng hơn bàn tay trái. Nó chưa bao giờ nói: “Tay trái, anh chẳng có ích lợi gì cả. Hãy nhìn tôi đây, tôi đã viết tất cả những bài thơ này”. Còn bàn tay trái cũng chẳng cảm thấy mặc cảm gì cả. Đó là lý do tại sao bàn tay trái của tôi không hề khổ đau tí nào. Cả hai bàn tay tôi luôn sống chung với nhau rất hòa hợp.

Một ngày nọ, tôi đang tìm cách treo một bức tranh lên tường. Bàn tay trái của tôi cầm một cây đinh và tay phải tôi cầm một cái búa. Do không khéo léo, tay phải cầm búa đã đập vào một ngón tay của bàn tay trái. Ngay lúc đó, bàn tay phải hạ búa xuống và ôm lấy bàn tay trái mà không hề có sự phân biệt, kỳ thị nào. Bởi vì nỗi đau của bàn tay trái cũng là nỗi đau của bàn tay phải.

Tay trái của tôi hiểu được điều đó cho nên nó không hề giận bàn tay phải. Nó không nói rằng: “Tay phải, anh đã làm cho tôi đau. Tôi phải đòi lại công bằng. Đưa búa đây cho tôi!”. Bàn tay phải đã nhìn thấy bàn tay trái trong chính mình và ngược lại. Đó chính là trí tuệ vô phân biệt, là tuệ giác bất nhị.

Có một cách nhìn gọi là cách nhìn tương tức. Khi nhìn vào một bông hoa, ta sẽ thấy bông hoa được làm từ những yếu tố không phải là hoa. Nhìn thật sâu vào bông hoa, ta sẽ thấy được ánh nắng mặt trời. Vì nếu không có ánh nắng mặt trời thì bông hoa không thể sống được. Nhìn sâu vào bông hoa ta còn thấy những đám mây. Vì nếu không có mây thì sẽ không có mưa và hoa sẽ không thể sống được nếu thiếu nước. Nếu chúng ta lấy đi tất cả những yếu tố không phải là bông hoa thì bông hoa không thể nào tồn tại được. Do vậy ta có thể nói: Bông hoa được làm từ những yếu tố không phải là hoa. 

– Tôi đã từng nghe nhiều giảng sư Phật giáo giảng dạy về giáo lý tương tức bằng những từ ngữ rất trừu tượng nên thú thực, càng nghe tôi càng không hiểu. Nhưng giờ đây, thiền sư đã giúp cho tôi hiểu một cách tường minh sự tương tác tuyệt vời giữa các sự vật, hiện tượng, con người trong vũ trụ, trong đời sống. Cách nhìn này sẽ giúp đỡ chúng ta nhiều lắm.

– Ta cũng có thể sử dụng cách nhìn đó khi nhìn vào đạo Bụt. Đạo Bụt là một đóa hoa rất đẹp và được hình thành từ những yếu tố không phải là đạo Bụt. Thực tập đạo Bụt, ta có thể tiếp cận được với trí tuệ của tất cả các truyền thống khác. Đó là lý do tại sao đạo Bụt hoàn toàn không mang tính chủ thuyết, không phải là một đức tin để tôn thờ và bảo vệ.

Khi trồng hoa sen, ta cần phải có bùn. Khi nhìn vào hoa sen, chúng ta nhìn thấy những yếu tố không phải là hoa sen. Bùn là một trong những yếu tố đó nhưng lại vô cùng cần thiết để hoa sen có thể biểu hiện được. Khổ đau của chúng ta có thể xem là bùn và hạnh phúc có thể ví như hoa sen. Giữa hạnh phúc và khổ đau có một mối liên hệ mật thiết và sâu sắc. Chúng ta sẽ có được trí tuệ vô phân biệt khi chúng ta nhìn sâu vào tự tánh của hoa sen. Khi chúng ta nhìn thấy yếu tố bùn trong hoa sen, ta sẽ không còn kỳ thị đối với bùn nữa. 

Cũng như vậy, khi nhìn vào một người con, ta sẽ thấy người cha. Đứa con là sự tiếp nối của người cha, ta không thể lấy yếu tố cha ra khỏi con được. Đó là lý do tại sao khi nhìn sâu vào đứa con, ta có thể thấy người cha và ngược lại. Sáng nay, chúng tôi đã hướng dẫn buổi thiền tập quán chiếu vào gia đình mình: “Thở vào tôi thấy cha tôi lúc mới lên năm, yếu đuối và mong manh. Tôi mỉm cười với đứa bé lên năm (vốn là cha tôi) với lòng từ bi.”

Cách quán chiếu như vậy có thể giúp ta tiếp xúc với cái sự thực của vô ngã với các yếu tố không phải là ta đang nằm trong ta. Khi ta thấy được cha có những yếu tố bị xâm nhập từ tuổi thơ – không phải là cha – khiến cha dữ dằn, bạo động như thế thì ta sẽ hiểu và thương được cha, dù cha có tệ bạc. Và ta cũng thấy được cha đang có mặt trong từng tế bào trong ta với những khổ đau, những tập khí và cả những tài năng.

Thực tập như vậy sẽ đem tới tuệ giác tương tức, tuệ giác vô ngã rất cụ thể. Nó sẽ giúp ta thoát khỏi giận hờn, oán trách cha mà ngược lại, ta còn biết tri ân cha… Đó là lý do tại sao tinh thần vô phân biệt trong đạo Bụt lại vô cùng quan trọng cho một nền hòa bình trên thế giới. Với tuệ giác vô phân biệt và bất nhị, ta sẽ không còn coi ai là kẻ thù nữa. Ta sẽ thấy rằng những người làm ta khổ cần được giúp đỡ, chứ không đáng bị trừng phạt.
–  Đạo Bụt là một di sản vô giá đã được trao truyền cho chúng ta từ bao nhiêu thế hệ đi trước. Nếu chúng ta biết thực tập theo tinh thần vô phân biệt thì ta có thể đóng góp rất lớn vào sự hòa hợp và hòa giải trong các quốc gia và trên thế giới?

– Đúng thế. Những giáo lý và phương pháp thực tập của đạo Bụt vẫn còn mang tính thực tiễn đối với thế giới hiện đại ngày nay. Chúng ta cần học hỏi và thực tập đạo Bụt để có thể phát triển tuệ giác vô phân biệt và bất nhị trong ta. Nếu chúng ta biết áp dụng sự thực tập chánh niệm vào đời sống hàng ngày thì chúng ta có thể tạo ra hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Nếu ta biết thực tập lắng nghe với tâm từ bi và sử dụng ngôn từ hòa ái, ta có thể tái lập lại sự truyền thông và mang lại hòa bình cho đất nước của chúng ta cũng như cho thế giới này.

Theo thiền sư Thích Nhất Hạnh: Mỗi người cần có một đường hướng tâm linh trong cuộc sống của mình. Không có hướng đi tâm linh trong cuộc đời, chúng ta không thể xử lý được những khó khăn gặp phải. Chúng ta phải biết sống một đời sống tâm linh, một đời sống có giáo pháp. Chúng ta phải học cách đưa giáo pháp vào sự thực tập. Và với cách thức thực tập đó, chúng ta có thể giải quyết được những khó khăn mà ta gặp phải trong đời sống hàng ngày.

(Còn nữa)
Hoàng Anh Sướng

Nhà báo Hoàng Anh Sướng:

Theo Báo Tuổi trẻ & Đời sống

Gửi phản hồi