Cuộc trò chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh về “Hạnh phúc đích thực” (Kỳ 8)

0
44

– Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Mỗi năm tại Việt Nam, trung bình có khoảng 300.000 ca nạo phá thai, cao nhất khu vực Đông Nam Á và xếp thứ 5 trên thế giới. Thiền sư có suy nghĩ gì về thực trạng đáng báo động này? Là một thầy tu, thiền sư ủng hộ hay không ủng hộ chuyện nạo phá thai?

– Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Trước tiên, tôi muốn nói rằng, nếu chúng ta không kiểm soát sinh nở, chúng ta sẽ không giải quyết được nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề xóa đói giảm nghèo, vấn đề chiến tranh. Hạn chế và kiểm soát sinh nở là chuyện chúng ta phải làm thôi. Vấn đề đặt ra là không phải nên hay không nên phá thai. Nếu để cho tình trạng này xảy ra rồi mới đặt câu hỏi thì có thể khó khăn gấp trăm, ngàn lần. Phương pháp thực tập phòng ngừa quan trọng hơn phương pháp thực tập đối trị.

Chánh niệm có nghĩa là mình biết những gì đang xảy ra, khi mình làm gì, phải đo lường hậu quả. Khi hành xử không có chánh niệm, chúng ta sẽ tự gây ra khó khăn cho chúng ta trong tương lai. Trong giây phút hiện tại mình phải chịu trách nhiệm một trăm phần trăm cho nên để tránh phá thai, mình đừng để cho cái thai thành hình.

Có biết bao nhiêu phương pháp ngăn ngừa cho tình trạng đó không xảy ra. Nếu chúng ta có chánh niệm, nếu chúng ta biết xử lý giây phút hiện tại một cách sáng suốt thì làm gì có chuyện phải phá thai. Vì vậy, không cần đặt vấn đề phá thai.

Trên thế giới, người ta đã vận động cho phụ nữ có quyền phá thai. Một ông linh mục rất nổi tiếng, cha Berigan, cũng đi vận động xin chữ ký để người phụ nữ có được quyền đó. Bản kiến nghị đã gởi tới cho tôi nhưng tôi không ký. Không phải là tôi không yểm trợ, không thấy được nỗi khổ, niềm đau của người phụ nữ nhưng tôi thấy rằng, đó là cách giải quyết trên ngọn mà không giải quyết dưới gốc.

Giải quyết ở dưới gốc là phương pháp thực tập chánh niệm, mình làm thế nào để cho người đàn ông có trách nhiệm và người đàn bà cũng có trách nhiệm. Nếu đàn ông và đàn bà đều có thực tập chánh niệm rồi thì chuyện có thai mà mình không muốn, sẽ không xảy ra.

Cuộc trò chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh về Hạnh phúc đích thực (Kỳ 8)

 Sử dụng phương pháp quán chiếu, mình có thể phát khởi ra tâm từ bi cả với người đã hãm hại mình 

– Tôi được biết, trong số những phụ nữ đi nạo phá thai ấy, có bào thai là hậu quả của những vụ hãm hiếp. Ngay tại tu viện Lộc Uyển của ngài ở tiểu bang Califonia, tôi đã nghe những câu chuyện buốt lòng của nhiều phụ nữ Việt Nam bị hải tặc hãm hiếp trên thuyền khi họ vượt biển. Nỗi đau dằng dai, dày vò suốt mấy chục năm ròng. Thiền sư có cách nào để hóa giải nỗi đau ấy cho họ?

– Về chuyện những thuyền nhân bị hải tặc hãm hiếp trên biển cả, tôi cũng đã nghe nhiều rồi. Vấn đề của họ thực sự là vấn đề rất lớn. Hình ảnh ghê rợn của tên hải tặc hãm hiếp in sâu vào tâm khảm, dầu không phá thai. Đến khi sinh, đứa con vẫn mang hình ảnh của người cha mà mình đã từng coi như kẻ thù. Giữa mình với đứa con, hạnh phúc không được trọn vẹn.

Một số người đã được các bác sĩ tâm lý trị liệu, mục sư, tu sĩ cho phép phá thai nhưng tôi nghĩ rằng, đó không phải là cách duy nhất. Nếu sử dụng phương pháp quán chiếu của đạo Phật thì mình có thể đi xa hơn, mình có thể phát khởi ra tâm từ bi ngay cả với người hải tặc đã hãm hại mình.

– Có nghĩa là yêu thương ngay kẻ đã hãm hại mình, gây cho mình bao đau đớn, tủi nhục?

– Tôi đã từng quán niệm như vậy. Vào một buổi sáng, tôi nhận được thư từ Songkhla (Thái Lan) báo tin: Một em bé mười hai tuổi bị làm nhục phải nhảy xuống biển tự vẫn. Cha đứa bé tới can thiệp cũng bị hải tặc liệng xuống biển chết luôn. Nghe xong, tôi thấy tim mình đau nhức.

Ngày hôm đó, tôi đi thiền hành rất lâu ở trong rừng. Buổi tối, tôi ngồi thiền, tôi quán chiếu, tôi thấy nếu hai mươi năm trước, tôi được sinh ra trên bờ biển Thái Lan trong một gia đình ngư dân rất nghèo đói. Cha tôi không có học thức, mẹ tôi chưa bao giờ biết cách nuôi con. Suốt cuộc đời cha tôi nghèo khổ, đói khát, bị áp bức, mẹ tôi cũng không được giáo dục gì hết thì lớn lên, tôi sẽ là một đứa trẻ hoang.

Một ngày nào đó, một đứa bạn chạy tới, bảo: “Bọn thuyền nhân hay đem vàng theo lắm, mình chỉ cần làm một chuyến thôi là có thể thoát khỏi thân phận nghèo đói, áp bức”. Tôi là một người chưa từng được đi học, chưa từng được giáo dục về lòng từ bi nên tôi nghe theo lời người bạn đó.

Khi tôi ra biển làm hải tặc, tôi thấy những người bạn khác hãm hiếp phụ nữ, con nít. Ở đây, không có cảnh sát và tôi chưa biết tình dục là gì, nhân cơ hội đó tôi mới hãm hiếp một người. Nếu anh có súng trên tay, anh bắn thì tôi chết nhưng cả cuộc đời, chưa có ai giáo dục tôi. Những nhà kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội chưa ai giúp tôi, giúp cha tôi, mẹ tôi. Tôi, một đứa con lớn lên như một cây hoang trong rừng.

Khi thấy được hình ảnh đó, tôi bắt đầu thấy tội nghiệp người hải tặc kia. Giả sử, nếu tôi sinh ra trong cái hoàn cảnh đó, có thể hai mươi năm sau, tôi đã trở thành hải tặc. Quán chiếu như vậy thì tự nhiên trong trái tim tôi ứa ra một giọt nước từ bi. Và đêm đó, tôi tha thứ được cho người hải tặc.

Nếu mình là người thiền quán giỏi, mình quán chiếu người hải tặc đã từng hãm hiếp mình, mình thấy được rằng người đó cũng là nạn nhân của nghèo đói, của bóc lột, của thiếu giáo dục, tự nhiên trái tim mình cũng sẽ ứa ra giọt nước từ bi, mình có thể sẽ tha thứ và chấp nhận được người đó.

Mình phát nguyện sau này, nếu gặp những đứa bé trai ở trong tình trạng đó, mình sẽ tìm cách giúp để cho chúng không trở thành hải tặc trong tương lai. Nếu ngày hôm nay không ai làm gì để giúp những đứa bé sinh ra trong miền duyên hải Thái Lan, hai mươi năm sau, hàng trăm đứa sẽ trở thành hải tặc.

Khi có cái thấy, hiểu và thương đó, tự nhiên hận thù, đau khổ sẽ tan biến như tuyết dưới ánh sáng mặt trời. Mình có thể chấp nhận được người hải tặc đó, mình có khả năng giữ lại cái thai của mình, thương yêu nó và thương yêu cha nó. Cha nó là một người con trai bất hạnh chưa bao giờ được hiểu, chưa bao giờ được thương, chưa bao giờ được có một cơ hội trong xã hội này.

Chúng ta đang bàn về vấn đề lạm dụng tình dục. Có nhiều trẻ em, thậm chí chỉ 4-5 tuổi, bị lạm dụng tình dục. Với tuệ giác của đạo Phật, thiền sư có giải pháp nào để hạn chế thực trạng đau lòng này không?

– Trong phong tục tập quán của người Việt, bạn không được sờ lên đầu người khác nếu bạn không biết rõ về người đó. Đầu là một trong những nơi linh thiêng của thân thể, là nơi để thờ tổ tiên và thờ Bụt. Có những bộ phận khác của thân thể cũng linh thiêng mà mọi người không được chạm tới.

Cũng giống như trong thành nội có Tử Cấm Thành là nơi mà gia đình hoàng tộc đang ở, bạn không được đến những nơi đó. Nếu xâm phạm, bạn sẽ bị bắt và bị chém đầu. Tương tự như vậy, trên cơ thể con người, có những vùng mà bạn không được phép chạm đến. Nếu bạn không tôn trọng, chạm đến phần thân thể đó thì có nghĩa là bạn đang xâm nhập vào “Tử Cấm Thành”.

Có những đứa trẻ đã bị lạm dụng ở tuổi lên tám, lên chín và chúng cực kỳ đau khổ. Chúng trách móc cha mẹ đã không bảo vệ chúng và những liên hệ của chúng với cha mẹ trở nên rất khó khăn. Kế đó là những mối liên hệ với bạn bè và người yêu trong tương lai của chúng cũng sẽ rất khó khăn. Những vết thương sẽ cứ còn đó hoài.

Tình trạng lạm dụng tình dục ở trẻ em đang tràn ngập khắp nơi. Ở Mỹ, có 5 đến 15% bé trai và 15 đến 35% bé gái bị lạm dụng tình dục. Như vậy là quá nhiều. Khi một đứa trẻ bị lạm dụng như vậy, nó sẽ đau khổ suốt đời, bởi vì nó thấy thân thể nó đã không được tôn trọng.

Trong gia đình và trường học, chúng ta cần dạy cho những đứa trẻ biết kính trọng chính mình, biết kính trọng thân thể mình và kính trọng thân thể của người khác. Nếu là một nhà lãnh đạo tâm linh, là một chính trị gia, là phụ huynh, là giáo viên hoặc nhà giáo dục, xin các bạn hãy quan tâm về điều này. Chúng ta có thể học những lời Bụt dạy để tổ chức đời sống của mình trong gia đình, trường học và xã hội như thế nào mà ta được bảo hộ và con em chúng ta cũng luôn luôn được bảo hộ.

Hoàng Anh Sướng

Nhà báo Hoàng Anh Sướng:

Theo Báo Tuổi trẻ & Đời sống

Gửi phản hồi