Vợ chồng Bính Dần đau ốm liên miên, liệu có phải do nhà có 3 tuổi Dần

0
80

Kính gửi chuyên gia tư vấn Nghĩa Thanh. Tôi là Phạm Văn Vĩnh, sinh ngày 1/7/1926 DL (năm Bính Dần) vào buổi tối và vợ là Vũ Thị Tuyết sinh ngày 29/10/1926 DL không nhớ giờ sinh, đều là giáo viên về hưu. Con gái cả của tôi sinh ngày 10/1/1954 DL không rõ giờ sinh.

Chúng tôi thống thiết xin chuyên gia chỉ bảo cho gia đình tôi. Từ đầu năm 2014 đến nay, khi thuê một nữ giúp việc tên Hải tuổi Nhâm Dần (1962), gia đình tôi rước tật bệnh về nhiều hơn.

Tôi trước nay chưa hề đau ốm hay nằm viện ngày nào, nhưng từ khi chị Hải về ở trong nhà thì từ đầu tháng 4/2014, tôi bị ốm tê liệt cả người, đi cũng không vững và đã bị ngã ngửa nhiều lần. Sau khi chữa chạy và cúng lễ, hiện sức khỏe của tôi đã hồi phục thì vợ tôi bắt đầu đổ bệnh.

Một nhà có 3 tuổi Dần, 3 con hùm thì liệu có an toàn không? Đến lượt vợ tôi quay ra ốm, ngày càng nặng, tôi tin rằng Nhâm phá Bính. Theo chuyên gia có phải không?

Xin chuyên gia chỉ bảo cho tôi những điều cần phải làm. Hoặc là thôi không thuê người giúp việc tuổi Nhâm Dần này, và nếu thuê thì có tiếp tục bị tai hại không? Hoặc là trong khi chờ đợi tìm người giúp việc khác thì thiết tha kính khẩn cầu cầu chuyên gia chỉ bảo cách hóa giải.

Chuyên gia tử vi Nghĩa Thanh:

Kính thưa cụ!

Từ xa xưa, môn Lý học phương Đông đã dùng can chi để biểu thị yếu tố thời gian hành vận trong vũ trụ. Can chi – nói một cách hình tượng, được ví như cái cây. Can là gốc, cứng rắn, thuộc Trời, nên gọi là Thiên can. Chi là cành, là ngọn, mềm yếu, thuộc Đất, nên gọi là Địa chi.

Mười Thiên can và mười hai Địa chi đều biểu thị một chu trình sinh trưởng của cây từ lúc hạt nảy mầm thành cây đến khi cây chết đi, để lại hạt mới, tham gia vào một chu trình tiếp theo.

Trong đó, can Bính là giai đoạn hạt nảy mầm thành cây, ra lá; chi Dần là thời kỳ mầm non bắt đầu phát triển, lá non vươn ra trên mặt đất; can Nhâm là giai đoạn hạt đã tiếp nhận được sinh khí để chuẩn bị thực hiện một chu trình mới trên mặt đất.

Đầu tiên, người ta dùng Thiên can để chỉ ngày, dùng Địa chi để chỉ tháng. Sau đó mới biết kết hợp một can với một chi để ghi năm, tháng, ngày, giờ. Ví dụ: Năm Nhâm Dần, tháng Giáp Thìn, ngày Nhâm Ngọ, giờ Tân Sửu (tức từ 1 – 3h sáng, ngày 14/4/1962).

Can chi được phân tách thành âm và dương. Trong 10 can có 5 can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm và 5 can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Mười hai địa chi cũng vậy, 6 chi dương là Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất; 6 chi âm là các chi còn lại.

Can chi cũng được phân chia theo ngũ hành. Trong đó, Giáp, Ất thuộc hành Mộc; Bính, Đinh thuộc hành Hỏa; Mậu, Kỷ thuộc hành Thổ; Canh, Tân thuộc hành Kim; Nhâm, Quý thuộc hành Thủy. Các chi cũng vậy, Dần, Mão thuộc hành Mộc; Tỵ, Ngọ thuộc hành Hỏa; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc hành Thổ; Thân, Dậu thuộc hành Kim; Hợi, Tý thuộc hành Thủy. Can chi còn được dùng để chỉ phương vị, các mùa trong năm. Ví dụ: Can Bính thuộc dương, hành Hỏa, phương Nam, mùa hạ; chi Dần thuộc dương, hành Mộc, phương Đông Bắc, mùa xuân.

Nếu hai can khắc nhau về ngũ hành, nhưng một can dương, một can âm thì gọi là Hợp. Ví dụ: Can Bính thuộc Hỏa, khắc can Tân thuộc Kim, Bính là can dương, Tân là can âm: Bính hợp Tân.

Nếu hai can khắc nhau về ngũ hành, giống nhau về âm dương thì gọi là Phá. Ví dụ: Can Nhâm thuộc Thủy, khắc can Bính thuộc Hỏa, Nhâm và Bính đều là can dương: chính là như vậy.

Các chi thì có quan hệ hợp – xung. Có bốn tam hợp là: Thân – Tý – Thìn, Tỵ – Dậu – Sửu, Hợi – Mão – Mùi, Dần – Ngọ – Tuất. Có 6 cặp xung là: Tý – Ngọ, Sửu – Mùi, Dần – Thân, Mão – Dậu, Thìn – Tuất, Tỵ – Hợi.

Sức khỏe của hai cụ suy kém chủ yếu là do hai cụ đang ở vào vận xấu
Sức khỏe của hai cụ suy kém chủ yếu là do hai cụ đang ở vào vận xấu

Khi so tuổi người trong một gia đình, người ta thường đối chiếu các can, các chi, cả can chi của các tuổi với nhau xem hợp hay phá, sinh hay khắc. Hợp và sinh là tốt; phá, khắc hoặc xung là xấu. Khắc can hại danh, khắc chi hại lợi.

So tuổi Bính Dần của hai cụ và tuổi Nhâm Dần của chị giúp việc thấy rằng: Về hàng can, can Nhâm phá Bính là xấu. Về hàng chi, là đồng chi Dần, bình hòa. Về cả can lẫn chi (nạp âm) thì tuổi cụ thuộc hành Hỏa, nguyên thể là Lô Trung Hỏa (lửa trong lò); tuổi chị giúp việc thuộc hành Kim, nguyên thể là Kim Bạc Kim (vàng mạ đồ kim loại). Về hình thức thì Hỏa khắc Kim nhưng Hỏa ở đây là lửa trong lò không mấy liên quan đến Kim – vàng mạ đồ kim loại.

Hai cụ và chị giúp việc đều sinh vào năm Dần, theo cách tính của dân gian là “cầm tinh con hổ”. Có người cho rằng sinh năm nào có “tinh tướng” như con vật của năm đó, như vậy không đúng.

Ví dụ: Sinh năm Thìn thì “tinh tướng” người đó ra sao ? Vì rồng là con vật không có thật! Sinh năm Sửu thì “tinh tướng” giống trâu hay bò, sinh năm Mão thì giống mèo hay thỏ vì quan niệm của người Việt và người Hán có khác nhau.

Trong Tử vi, can Dần không liên quan gì đến con hổ, chỉ có sao Bạch Hổ liên quan đến loài vật ấy. Sao Bạch Hổ thuộc Kim, tượng trưng cho sự dũng mãnh, bạo tợn, bi thảm, tang thương, gây bệnh tật và tai họa.

Nếu sao này đóng ở cung Dần, Mão, thuộc Mộc là “hổ ở bìa rừng”, đóng ở cung Thân, Dậu, thuộc Kim là “hổ cư hổ vị” (con hổ ở lãnh thổ của nó), lại có thể nổi danh, giầu có. Với tuổi nào, cũng có nhận định như vậy, kể cả người tuổi Dần.

Theo tôi, sức khỏe của hai cụ suy kém như vừa rồi, chủ yếu là do hai cụ đang ở vào vận xấu. Cụ sinh vào giờ Tuất, ngày 22/5 năm Bính Dần (tức ngày 1/7/1926 DL), là Dương Nam, mệnh Hỏa, cung Mệnh đóng ở cung Thân, không có sao chính (gọi là Mệnh vô chính diệu).

Image title
Các cụ đừng quá lo nghĩ mà hãy tập trung an tâm trị bệnh

Trong 15 năm đầu đời – từ nhỏ đến năm 1940, tuy sức khỏe của cụ không tốt nhưng cũng không có vấn đề gì lớn vì đại vận đầu tiên này ở vào cung Mệnh. Đại vận 1941 – 1950 ở cung Dậu – cung Phụ Mẫu.

Có câu: “Hỏa cư Đoài thượng họa nan tàng” (mệnh Hỏa, vận ở cung Dậu – cung Đoài, nhiều tai họa tiềm ẩn). Tuy nhiên, nhờ song thân thận trọng (sao Thiên Phủ), đức độ (sao Long Đức, Thiên Việt) nên qua khỏi.

Hai đại vận từ năm 1951 đến năm 1960 và từ năm 1961 đến năm 1970 có sao Tuần Không cản, lại là tốt cho người Mệnh vô chính diệu… Quan trọng nhất là cung Tật Ách (sức khỏe, bệnh tật) của cụ là cung âm, thuộc Mộc, tương sinh với bản mệnh của cụ. Cung này còn có sao Thiên Không là không có bệnh tật gì hoặc nếu mắc bệnh thì cũng qua loa, chóng khỏi. Điều này lý giải vì sao cụ không hề đau ốm hay nằm viện ngày nào.

Hiện nay, cụ đang ở đại vận 2011 – 2020, ở cung Thìn (cung Thiên La) có sao Tang Môn (buồn khổ), được các sao Tuế Phá (lực bất tòng tâm), Điếu Khách (bệnh tật, xui xẻo) chiếu.

Phú có câu: “Tang Môn thậm khổ ư Thiên La thung huyên lãnh đạm” (sao Tang Môn đóng ở cung Thìn rất xấu, ở nơi vui vẻ vẫn sầu khổ). Ở đây có sao Triệt Không (gọi tắt là Triệt) đóng.

Nhưng cuối đời Triệt không còn tác dụng ngăn cản, những sao xấu như Tang Môn, Thiên Khốc (bại tinh), Đà La (sát tinh) và các sao xấu khác ở tam phương hợp chiếu. Đại vận xấu phải đợi gặp tiểu vận xấu mới phát tác.

Cụ bà tuổi Bính Dần, thuộc Dương Nữ, tiểu vận năm nay ở cung Tý. Cung này hành Thủy, khắc hành bản mệnh của cụ bà, có sao Điếu Khách trong bộ ba Tang Môn – Tuế Phá – Điếu Khách với ý nghĩa như đã nói ở trên. Vận năm nay càng thêm khó vì Điếu Khách lại đồng cung với các sao Thiên Khốc, Thiên Hư lưu, có thêm sao Tang Môn lưu hợp chiếu.

Con gái cả của cụ sinh ngày 10/01/1954 DL, tuổi Quý Tỵ, mệnh Thủy. Tiểu vận của chị cũng ở cung Thân thuộc Kim. Kim sinh Thủy nên bản thân chị thì không sao. Cung này có sao Bệnh Phù, được sao Trực Phù hợp chiếu nên phải hết sức chú ý đến sức khỏe, bệnh tật của bố mẹ mình. Vận hạn của cụ là vậy, của cụ bà và của chị là vậy, nên hai cụ mới ốm đau, vận hạn, đâu phải vì ba người tuổi hổ ở chung một nhà!

Vận hạn của hai cụ đều liên quan đến sao Thiên Mã, chỉ sự đi đứng, vận động, di chuyển, gặp sao Điếu Khách là hay ngã, bất thường.

Sao Tang Môn – chủ cho các bệnh về máu, khí huyết, ngoài ra còn có nghĩa là bệnh tật lâu khỏi, hết lại tái phát; có sao Thiên Khốc, Thiên Hư chỉ báo thận, phế (phổi) yếu, hay ho hắng.

Những sao trên nhập hạn làm sức khỏe của hai cụ sa sút, bệnh nạn bất ngờ, nhưng chỉ trong năm nay thôi. Mong các cụ lưu tâm hơn đến những điều này, đừng quá lo nghĩ mà tập trung an tâm trị bệnh.

Kính chúc hai cụ bình an, sớm khỏi bệnh để vui vầy cùng con cháu!

Theo Báo Người Giữ Lửa

Gửi phản hồi