Cuộc trò chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh về “Hạnh phúc đích thực” (kỳ 4)

0
53

 – Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Ngài là một trong những đại thiền sư nổi tiếng nhất thế giới dùng pháp môn chánh niệm để xoa dịu, chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau cho hàng triệu người trên khắp thế giới. Vậy bản thân ngài có còn niềm đau, nỗi khổ nào xâm chiếm, dày vò tâm hồn không?

– Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Hồi tôi mới xuất gia, lúc 16 tuổi, tôi cũng hỏi thầy của tôi là: Bụt khi đã thành Bụt rồi có còn khổ đau nữa không? Vì nếu vẫn còn nỗi khổ, niềm đau thì thành Bụt làm gì? Sau này, tôi mới hiểu, Bụt khi đã thành Bụt rồi vẫn khổ đau như thường. Ví như lúc đệ tử của ngài bệnh nặng, rồi chết, ngài cũng buồn khổ chứ. Nhưng nhờ tu tập chánh niệm hàng ngày mà ngài có tuệ giác. Và nhờ tuệ giác, ngài mau chóng chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau ấy cho nên Bụt khi đã thành Bụt thì ngài vẫn khổ nhưng ngài khổ rất ít và vì thế, ngài hạnh phúc hơn chúng ta rất nhiều.
 
Cuộc trò chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh về “Hạnh phúc đích thực” (kỳ 4)
Thiền sư Thích Nhất Hạnh
 
– Có một điều vô cùng đặc biệt là mỗi khi có dịp ngồi gần thiền sư, tôi cảm nhận rất rõ một nguồn năng lượng bình an, tươi mát luôn tỏa rạng quanh ngài khiến cho những căng thẳng, sợ hãi, lo âu, hờn giận trong tôi dịu lại, tan biến. Lúc nào thiền sư an bình, thư thái, an nhiên như vậy sao?
 
– Đó là sự thực tập của tôi. Và tôi luyện cách sống như vậy mỗi phút giây để có thể giữ sự bình an trong tôi suốt ngày. Hồi tôi mới đi tu, thầy tôi có trao cho tôi một quyển sách gồm 60 bài thi kệ để học thuộc lòng. Bất kỳ vị xuất gia nào cũng phải học thuộc các bài thi kệ này để thực tập chánh niệm. 
 
Bài thi kệ đầu tiên là bài  thức dậy buổi sáng: “Thức dậy miệng mỉm cười/ Hai bốn giờ tinh khôi/ Xin nguyện sống trọn vẹn/ Mắt thương nhìn cuộc đời”. Tất cả các bài thi kệ đều có bốn câu. Mỗi câu của bài thi kệ đi theo một hơi thở, câu đầu đi với hơi thở vào, câu thứ hai đi với hơi thở ra. Khi mình thở vào, thở ra và thầm đọc bài kệ, mình sẽ ý thức được rõ ràng mình thực sự đang làm gì. 
 
Buổi sáng khi chúng ta thức dậy, chúng ta nhận ra là mình đang còn sống và sự sống đang có mặt xung quanh ta. Chúng ta nhận ra 24 giờ là một món quà của sự sống và chúng ta nguyện sống thật sâu sắc với những giờ phút quý báu này. Khi chúng ta thực tập như vậy, hạnh phúc sẽ đến với chúng ta ngay tức thì. 
 
Đối với tôi, sự kiện rằng mình đang còn sống là một điều kỳ diệu. Chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ để ta ăn mừng rồi. Vì vậy, chỉ cần thở vào và ý thức rằng mình đang còn sống đã là một phương pháp thực tập giúp mang lại hạnh phúc rồi. 
Còn có một bài thi kệ để thực tập khi chải răng. Khi thực tập bài thi kệ này, chúng ta có thể biến hai hay ba phút chải răng thành những giây phút hạnh phúc. Tôi nay đã 87 tuổi, vậy mà mỗi lần chải răng tôi vẫn thấy vui. Tôi nghĩ thật là hạnh phúc quá chừng, ở tuổi này rồi mà tôi vẫn còn răng để chải! 
 
Sau này tôi có làm thêm nhiều bài thi kệ mới, chẳng hạn như bài kệ dùng khi sử dụng điện thoại hoặc khi đi máy bay. Sử dụng những bài thi kệ này luôn mang lại cho tôi nhiều hạnh phúc. Những bài thi kệ có tác dụng giúp cho ta ý thức về những gì ta đang làm trong giây phút hiện tại và chúng ta có thể làm những việc đó với nhiều niềm vui. 
 
– Thật là vinh hạnh nếu được thiền sư chỉ dạy cho tôi và độc giả của Báo Tuổi trẻ & đời sống pháp môn căn bản của ngài! 
 
– Tôi rất sẵn lòng.
 
– Có lẽ xin được mở đầu bằng phương pháp thiền, một trong những pháp môn căn bản của làng Mai cũng như của đạo Bụt. Trước tiên, xin ngài giải thích, thiền là gì? 
 
– Thiền, nói cho đầy đủ là thiền na. Tuy vậy người ta thường ưa nói tắt, nên họ bỏ chữ "na" đi mà gọi là thiền thôi. Tiếng Phạn là dhyana, có nghĩa là suy nghĩ, quán chiếu, chăm chú vào một đề tài cho nên các tổ ngày xưa đã gọi thiền là tư duy tu. Tư duy ở đây có nghĩa là suy nghĩ. Thường chúng ta nghe nói thiền không phải là suy nghĩ, tuy vậy gốc của chữ thiền lại có nghĩa là suy nghĩ! Vấn đề đặt ra là suy nghĩ cách nào, và tư duy ra làm sao?
 
– Như tôi được biết, chữ thiền còn có rất nhiều nghĩa? 
 
– Theo sự giải thích của các tổ thì chữ thiền có nghĩa là quán chiếu về một đối tượng. Đó là nghĩa đầu tiên. Tức là mình lấy sự vật nào đó làm đối tượng và mình nhìn vào nó. Nghĩa thứ hai cũng tương tự như vậy: Mình đến rất gần, mình tiếp xúc rất gần, mình nhận xét rất gần đối tượng đó và đối tượng đó thuộc về thế giới hiện tượng. Có thể từ thế giới hiện tượng đó mình đi sâu vào thế giới bản thể. 
 
Nghĩa thứ ba là loại trừ. Trong thiền tập, mình có chủ tâm loại trừ những chất liệu, những yếu tố làm cho mình khổ đau, nó làm cho mình đen tối, nó làm cho mình mờ ám, bất an. 
 
Nghĩa thứ tư, trong thiền tập, tâm ý của chúng ta được định lại trên một đối tượng. Nhờ định lực đó mà chúng ta có sức mạnh, và với sức mạnh đó chúng ta đốt cháy được những phiền não. Hình ảnh gần nhất mà chúng ta có thể dùng là hình ảnh của một thấu kính hội tụ tiếp nhận ánh sáng mặt trời. Tất cả những tia sáng mặt trời, sau khi đi qua thấu kính thì tụ vào một điểm,và nếu chúng ta đặt một bông cỏ đúng vào tiêu điểm đó, thì sức nóng hội tụ của ánh sáng mặt trời có thể đốt cháy được cái bông cỏ đó. 
 
Thành ra trong thiền tập, nếu chúng ta có định lực hùng hậu thì ta có thể dùng cái định lực đó để chiếu vào trạng thái hôn mê, phiền não và những trạng thái hôn mê, phiền não đó có thể bị đốt cháy. Đó là một ý nghĩa khác của thiền tập do chư tổ đưa ra. 
Thiền còn hàm chứa nghĩa: Dừng lại và làm cho buông thư. Sự dừng lại và buông thư được gọi là thiền chỉ. Trong sự thực tập, nếu chưa có khả năng dừng lại và buông thư, mình không thể đi xa hơn. Bởi không thành công thiền chỉ, khó có thể nhìn sâu, thấy rõ bản chất của các hiện tượng – Thiền quán.
 
– Tại sao sự dừng lại, buông thư lại quan trọng đến vậy trong thiền, thưa thiền sư?
 
– Mỗi người đều sẵn có hạt giống rong ruổi, tìm kiếm, chúng ta không thể ở yên được, hạt giống này chúng ta được tiếp nhận từ tổ tiên. Sở dĩ, mình không dừng lại được, bởi vì mình thiếu buông thư. Không buông thư được, những căng thẳng trong cơ thể bị dồn nén và yếu tố trầm tĩnh của đời sống mất đi. Nếu thực tập vững vàng phương pháp thở và đi trong chánh niệm, mình sẽ dừng được sự chạy đua. Lúc ấy, sự buông thư và niềm an lạc sẽ lập tức có mặt.  
 
– Ngồi thiền chính là cơ hội để ta thực tập dừng lại hoàn toàn?
 
– Đúng vậy. Khi ngồi, chúng ta sử dụng hơi thở có ý thức để hỗ trợ cho việc dừng lại ấy. Dừng lại được là bắt đầu có chủ quyền đối với thân và tâm của chính mình. Ngồi thiền trước hết là dừng lại và buông thư. Nếu trong khi ngồi mà phải đấu tranh, phải gồng mình và xem việc ngồi thiền như một lao tác mệt nhọc thì đó chưa phải là cách ngồi thiền đúng. 
 
Khi ngồi, tư thế phải thật thoải mái, lưng thẳng nhưng buông thư và khởi sự thực tập theo kinh quán niệm hơi thở. Thở vào, tôi ý thức về toàn thân của tôi, thở ra, tôi buông thư toàn thân. Và mình đem cái tâm đi vào cái thân. Cái tâm của mình chỗ nào cũng có cái thân hết, tức là tâm đầy trong thân. Giống như việc mình ngâm đậu xanh với nước ấm vậy, đậu xanh được ngâm trong nước ấm một hồi, nước sẽ thấm vào trong hạt đậu, hạt đậu sẽ nở ra gấp ba bốn lần ban đầu. 
 
Sở dĩ, cái thân khô héo là bởi vì cái tâm không thấm vào trong thân được. Nếu muốn cái thân được tươi mát, được thấm nhuận thì cần phải để cho tâm đi vào trong thân. Lúc ấy, thân của mình không còn là một xác chết nữa. Thân của mình sẽ trở thành một thực thể linh động, vì tâm được thấm vào trong từng cái tế bào. Tức là cái thân đầy cả cái tâm. 
 
Trong khi ngồi thiền, mình làm như thế nào để thân của mình đầy tâm mà tâm của mình cũng đầy thân. Khi thân và tâm hợp lại với nhau, mình thật sự có được những giây phút sống sâu sắc. Thiền là một phương pháp thực tập, và nếu thực tập đúng mình sẽ có hạnh phúc liền. Hạnh phúc này bắt đầu từ sự dừng lại và buông thư. Không có sự dừng lại và buông thư, thì không thể nào có hạnh phúc được. 
Hoàng Anh Sướng

Nhà báo Hoàng Anh Sướng:

Theo Báo Tuổi trẻ & Đời sống

Gửi phản hồi