Năm 2017 – năm Đinh Dậu phải được coi là năm đẹp với tuổi Mão?

(Tamsugiadinh.vn) - Năm Đinh Dậu có chi Dậu xung với tuổi Mão nhưng năm xung, năm tuổi không phải là năm xấu với người tuổi Mão. Tuy vậy, tiến hay lui, xuất hay xử, năm Đinh Dậu 2017, các cá nhân tuổi Mão nên tùy vào thời vận!
Năm 2017 – năm Đinh Dậu phải được coi là năm đẹp với tuổi Mão?
Năm 2017 – năm Đinh Dậu phải được coi là năm đẹp với tuổi Mão?

Thưa quý vị độc giả!

Tuổi Mão là tuổi âm, nam là âm nam, nữ là âm nữ. Nam thuộc dương, âm nam tiểu vận phải an theo chiều nghịch, nữ thuộc âm, âm nữ tiểu vận phải an theo chiều thuận mới phải. Cũng có người tính tiểu vận như thế.

Vậy thì tuổi Mão, tiểu vận năm Thân của nam ở cung Thân, của nữ ở cung Ngọ. Cung Thân là cung Kim, có các sao Nguyệt Đức, Tử Phù, Kiếp Sát. Cung Ngọ là cung Hỏa, có các sao Thiếu Âm, Thiên Hỷ. Sang năm, tiểu vận của nam và nữ cùng ở cung Mùi là cung Thổ, có các sao Hoa Cái, Long Trì, Phượng Các, Giải Thần, Quan Phù.

* Năm Bính Thân, cung Thân là “chủ sự” của năm: Nếu cung Thân là cung Mệnh, mọi sự trong năm sẽ chủ yếu liên quan đến mình. Nếu cung Thân là cung Nô, mọi sự chủ yếu liên quan đến bạn bè, đối tác, người giúp việc…

Điều này với nam rõ hơn, vì tiểu vận cũng ở ngay cung này. Phép xem vận hạn, phải hết sức chú ý đến tam hợp của tiểu vận. Cung Thân ở vào tam hợp Thân Tý Thìn, nên cung này còn chịu ảnh hưởng của các sao ở hai cung Tý, Thìn hợp lại. Cung Tý có các sao Đào Hoa, Hồng Loan, Phúc Đức, Thiên Đức. Cung Thìn có các sao Thiên Không, Thiếu Dương, Thiên La.

Sao Kiếp Sát là ác tinh, tính nóng nảy, độc ác, chủ sự phá hoại, đi với Thiên Không, Lưu Hà gây tai họa cho đương số. Sao Nguyệt Đức là cát tinh, tính ôn hòa, vui vẻ, từ thiện, chủ sự cứu giúp, đi với Thiên Đức, Phúc Đức, Long Đức thành bộ Tam Đức hay Tứ Đức, giải trừ tai ách. Vậy là may đi liền với rủi. Sao Tử Phù hợp với sao Trực Phù ở cung xung chiếu tạo thành một cặp, gây buồn thương, rắc rối, ngăn trở mọi công việc.

Cung Thân lại được Đào Hoa, Hồng Loan hợp chiếu. Đào, Hồng chủ sự mừng vui, may mắn, các tiểu vận đăng khoa hay thăng chức, lấy vợ lấy chồng, thêm con thêm cháu hay có hai sao này. Vậy là buồn đi với vui. Người tuổi Mão thuộc Tam hợp Mộc, đến cung Thân thuộc Tam hợp Thủy – Thủy sinh Mộc thì thuận lợi, nhưng phải đối diện với các trạng thái nói trên, đại vận đẹp thì may nhiều hơn rủi, vui nhiều hơn buồn, đại vận xấu thì ngược lại.

Cung Ngọ có sao Thiên Hỷ là cát tinh, tính vui vẻ, hòa nhã, cùng với Đào, Hồng xung chiếu làm thành bộ Tam minh, mang lại may mắn cho đương số, lợi ích cho chuyện công danh, cưới hỏi hay sinh nở. Cung Ngọ ở vào Tam hợp Dần Ngọ Tuất. Cung Dần có sao Trực Phù. Cung Tuất có sao Long Đức, Địa Võng.

Sao Thiếu Âm là cát tinh, tính thông minh, vui vẻ, hòa nhã, nhân hậu, giải trừ những bệnh tật, tai họa nhỏ. Sao Long Đức là đức độ, đoan chính, hòa nhã, nhân hậu, giải trừ những bệnh tật, tai họa nhỏ. Người tuổi Mão thuộc Tam hợp Mộc, đến cung Ngọ thuộc Tam hợp Hỏa – Mộc sinh Hỏa thì vất vả, thiệt thòi, riêng mệnh Mộc - tuổi Tân Mão - lại càng xấu: Mộc mệnh phùng Ly (cung Ngọ, thuộc quẻ Ly) hữu họa ương.

Tuổi Tân Mão có Tuần ở Ngọ Mùi, dù hai cung này có tốt hay xấu, sự tốt xấu cũng giảm đi nhiều. Vậy là còn phải xét đến hàng can của tuổi.

Tuổi Ất Mão (sinh năm 1965, mệnh Thủy), nam giới, tiểu vận sinh cho bản mệnh thì thuận lợi hơn các tuổi khác. Tiểu vận có thêm các sao hàng can gồm Hỷ Thần là vui vẻ, thịnh đạt, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Quan, Thiên Phúc không ngại hung họa – Thiên, Nguyệt Đức, Giải Thần tàng, cùng là Quan, Phúc một làng trừ hung. Nữ giới, tiểu vận gặp Triệt, bản mệnh khắc tiểu vận thì vất vả, có thêm các sao Tiểu Hao thì tốn kém, có Văn Tinh là được tiếng tốt, có Thiên Trù là được lợi, cuối năm thuận hơn đầu năm.

Tuổi Đinh Mão (sinh năm 1987, mệnh Hỏa), nam giới, tiểu vận khắc bản mệnh thì vất vả, có thêm sao Phục Binh là cạnh tranh, lo lắng, hơn nữa, có thêm sao Lưu Hà ở Thìn làm thành đủ bộ Thiên Không – Lưu Hà – Kiếp Sát cần phải thận trọng nhiều bề. Nữ giới, tiểu vận tương hòa với bản mệnh thì thuận lợi, có thêm sao Lộc Tồn thì nhiều tài lộc.

Tuổi Kỷ Mão (sinh năm 1939, mệnh Thổ), nam giới, mệnh sinh cho tiểu vận thì hao tiết, lại gặp cả Triệt lẫn Tuần thì bế tắc, có Phục Binh thì lo lắng, có Khôi, Việt cũng khó trông mong vào ai. Nữ giới, tiểu vận sinh bản mệnh thì được lợi, có thêm sao Lộc Tồn thì nhiều tài lộc nhưng gặp Lưu Hà cần lưu tâm chuyện sông nước, đi lại.

Tuổi Tân Mão (sinh năm 1951, mệnh Mộc), nam giới, tiểu vận khắc bản mệnh, lại thêm Kình Dương, Lực Sĩ – hai sao chủ ăn no vác nặng thì vất vả. Nữ giới thiệt thòi như đã nói ở trên, lại thêm sao Đại Hao là của đi thay  người, có một chút lộc ăn (Thiên Trù), danh tiếng (Thiên Khôi) cũng chẳng bõ bèn gì (gặp Tuần ngăn).

Tuổi Quý Mão (sinh năm 1963, mệnh Kim), nam giới, gặp tiểu vận Kim như về đến nhà mình không phải lo lắng gì, thêm Quốc Ấn, Tướng Quân là có cơ hội thăng tiến.

Năm Đinh Dậu, nam và nữ tuổi Mão tiểu vận đều ở cung Mùi - ở vào cung âm, lại là cung Tam hợp Thái Tuế - Quan Phù – Bạch Hổ, chắc hẳn phải có những việc quan trọng, đại vận có các sao này thì phát đạt, là được thiên thời

* Năm Đinh Dậu, nam và nữ tuổi Mão tiểu vận đều ở cung Mùi - ở vào cung âm, lại là cung Tam hợp Thái Tuế - Quan Phù – Bạch Hổ, chắc hẳn phải có những việc quan trọng. Đại vận có các sao này thì phát đạt, là được thiên thời.

Tiểu vận có các sao này thì xấu: Có Thái Tuế thì khẩu thiệt, vạ miệng, kiện tụng, lắm chuyện bực mình; có Quan Phù thì có sự cạnh tranh, cẩn thận kẻo xảy ra thù ghét, xích mích, bất hòa, phòng rắn rết cắn; có Bạch Hổ thì có tang, mất của, đau yếu, bệnh khí huyết hay xương cốt.

Có sách chia các sao thành 9 nhóm: Văn tinh, vũ tinh, lộc tinh, phúc tinh, đài các tinh, đào hoa tinh, hung tinh, hộ vệ tinh và án tinh. Long Trì, Phượng Các là đài các tinh, tính chất thông minh, nhân hậu, ôn hòa, vui vẻ, đem lại nhiều may mắn, làm công danh, tài lộc thêm hưng vượng, nhà đất thêm cao đẹp, rộng rãi.

Hoa Cái có sách cũng coi là đài các tinh, tính chất đẹp đẽ, uy nghi, chủ phú quý, quyền thế. Giải Thần tính chất đức độ, khoan hòa, nhân hậu, cứu khổn phò nguy, giải trừ bệnh tật, tai họa, gia tăng phúc thọ. Một cung, nếu sao tốt nhiều, sao xấu ít được cho là cung đẹp, tiểu vận ở đấy là tiểu vận đẹp. Vậy thì năm Đinh Dậu phải được coi là năm đẹp với tuổi Mão?

Tuổi Ất Mão, mệnh Thủy gặp vận Thổ như ván đã đóng thuyền, không trở ngược trở xuôi được nữa. Tuổi này có Triệt đóng ở tiểu vận thì nửa đầu năm sau công việc làm ăn không được suôn sẻ, gặp nhiều sao tốt cũng chẳng tốt được bao nhiêu. Nam giới có sao Bệnh Phù thì sức khỏe không tốt, đau yếu, buồn rầu. Tình hình này còn kéo dài đến nửa năm sau. Nữ giới có sao Tướng Quân thì mọi chuyện nên thận trọng, lo trước tính sau.

Tuổi Đinh Mão, mệnh Hỏa gặp vận Thổ thì thiệt thòi, nam có sao Đà La, nữ có sao Kình Dương. Kình, Đà là dở dang, phi lý, nên phải chí thú làm ăn, chuyện gì tự đến thì sẽ tự đi. Sang năm, Lộc Tồn lưu ở Ngọ, Kình Dương lại gặp Kình Dương lưu, nữ giới nên cẩn thận giữ gìn hơn nam giới.

Tuổi Kỷ Mão, mệnh Thổ lại gặp vận Thổ thì nên việc – lưỡng Thổ thành sơn, có Hỷ Thần, Phượng Các là thịnh đạt. Tuy vậy, mệnh xấu lại gặp Giải Thần thì không hay. Tuổi Tân Mão, mệnh khắc vận thì thành công nhưng vất vả, vận có Phục Binh, Bạch Hổ thì dễ bị khẩu thiệt, miệng tiếng.

Có sách cho rằng Tuần, Triệt làm cung xấu trở thành tốt, cung tốt trở thành xấu. Thiển nghĩ, Tuần, Triệt là án tinh - như một bức tường che chắn, làm cho tốt xấu khó bộc lộ ra bên ngoài, cung xấu bớt xấu, cung tốt bớt tốt thì đúng hơn. Tuổi Quý Mão, vận sinh bản mệnh thì thuận lợi, có cả Tứ linh (Long, Phượng, Cái, Hổ) lại có Lộc Tồn nhị chiếu thì tài quan song mỹ.

Muốn thành công, mọi sự cần phải có ba yếu tố là thiên thời, địa lợi, nhân hòa, sẽ có lúc rơi vào tình trạng thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa, thế nên tiến hay lui, xuất hay xử nên tùy vào thời vận

* Năm Đinh Dậu có chi Dậu xung với tuổi Mão, nhưng tiểu vận lại ở cung Mùi, không có bộ Phá Hư làm người ta phải nản chí. Trở lại năm Mão, tiểu vận tuổi Mão ở vào cung Sửu, không có Thái Tuế lắm chuyện thị phi. Như vậy, năm xung, năm tuổi không phải là năm xấu với người tuổi Mão. Còn về can, Đinh phá Tân và bị Quý phá.

Năm Đinh, Lộc Tồn lưu ở cung Ngọ, cả tuổi Tân và tuổi Quý cũng như các tuổi Mão khác đều được hưởng Lộc Tồn nhị chiếu. Vậy thì tuổi Mão cũng không ngại thiên khắc địa xung. Năm Bính Thân, các tuổi Mão hoặc là phạm Kim Lâu (Đinh Mão), hoặc là phạm Hoang Ốc (Ất Mão, Kỷ Mão, Tân Mão, Quý Mão). Sang năm, phạm Kim Lâu có tuổi Ất Mão, Quý Mão, phạm Hoang Ốc có tuổi Kỷ Mão, hai tuổi Đinh Mão, Tân Mão không phạm Kim Lâu, Hoang Ốc, chủ trì được việc lớn.

Muốn thành công, mọi sự cần phải có ba yếu tố là thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Thiên thời của đại vận (mười năm) tính theo vòng sao Thái Tuế. Đại vận nào có các sao Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ là đại vận được thiên thời. Hành của cung đại vận được coi là địa lợi với tuổi nào đó.

Ví dụ, mệnh Mộc, đại vận chuyển đến cung Hợi, hành Thủy, Thủy sinh Mộc – là được địa lợi. Nhân hòa là các sao trong đại vận. Được đại vận có nhiều sao tốt và hợp với cung Mệnh của đương số là được nhân hòa. Nên chăng cần xem xét yếu tố địa lợi và nhân hòa của các cung tiểu vận nằm trong đại vận ấy.

Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa – có phải thế không? Có lẽ không nên rạch ròi ba yếu tố này, bởi lúc này hay lúc khác, từng yếu tố trong đó trở nên quan trọng hơn. Cả ba yếu tố này làm nên thời vận của người ta.

Tiến hay lui, xuất hay xử nên tùy vào thời vận. Vận khứ hoài sơn năng trí tử, thời lai bạch thủy khả thôi sinh - Cùng là ông thầy ấy, cùng là những thứ tưởng như vô thưởng vô phạt ấy (hoài sơn và nước lã) mà lúc thì làm chết người, lúc thì cứu sống người.

Chúc quý vị độc giả mạnh khỏe, may mắn và hạnh phúc!

Theo Nghĩa Thanh
(Tuổi Trẻ Thủ Đô)
Tâm Sự Gia Đình