Pháp Luật -

Sau ly hôn, chị chồng đòi lại tiền và kiện tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

(Tamsugiadinh.vn) - Thời gian còn sống chung, chị chồng tôi đã cho tôi số tiền là 100 triệu đồng. Tôi nói với chị là cho tôi trả dần trong vòng 3 năm nhưng chị không đồng ý. Chị đã kiện tôi ra tòa, nói rằng tôi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Sau ly hôn, chị chồng đòi lại tiền và kiện tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Sau ly hôn, chị chồng đòi lại tiền và kiện tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Thưa luật sư, tôi đang rơi vào tình cảnh rất trớ trêu. Tôi rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư để mình an lòng. Vấn đề của tôi như sau:

Vợ chồng tôi ly hôn hồi tháng 7/2016. Thời gian còn sống chung, chị chồng tôi đã cho tôi số tiền là 100 triệu đồng. Tháng trước, sau khi chúng tôi ly hôn, chị chồng bỗng quay lại đòi tiền tôi. Chị ta nói rằng số tiền đó chị cho vay chứ không cho và đề nghị tôi ký vào giấy vay tiền.

Tôi đã ký và chị buộc tôi phải trả toàn bộ số tiền đó trong vòng 3 tháng. Tôi nói với chị là cho tôi trả dần trong vòng 3 năm nhưng chị không đồng ý. Chị đã kiện tôi ra tòa, nói rằng tôi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thưa luật sư, hoàn cảnh của tôi có được coi là tội lừa đảo không? Liệu tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Hoàng Thanh (36 tuổi, Hoàng Mai, Hà Nội)

Chào bạn, vấn đề của bạn, Văn phòng Luật sư Trương Anh Tú xin được trả lời như sau:

Theo qui định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Vấn đề xác định tội danh, tùy theo tính chất vụ việc mà cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra và xác định tội danh cho phù hợp.

Trong trường hợp chị chồng bạn không chứng minh được bạn dùng thủ đoạn gian dối nào để chiếm đoạt tài sản thì bạn không có dấu hiệu vi phạm hình sự thuộc tội danh nêu trên. Trường hợp này, chị chồng có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án dân sự về việc bạn vi phạm nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng vay tiền, bạn sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại các điều của Bộ luật Dân sự 2005:

Căn cứ theo Điều 474, Bộ luật Dân sự 2005 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay:1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý".

Chị chồng bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố hành vi của bạn khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp bạn không có khả năng trả nợ thì căn cứ theo điều 302, Bộ luật Dân sư 2005 về vi phạm nghĩa vụ dân sự  tại "Điều 302. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự:

1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền".

Theo Người Giữ Lửa
Tâm Sự Gia Đình