Tin tức -

Cuộc trốn chạy khỏi địa ngục và hạnh phúc chẳng tày gang của người “vợ nhặt”

(Tamsugiadinh.vn) - Trong một đêm mưa gió mù trời, bà ôm con lao ra khỏi căn nhà ngập tràn máu và nước mắt. Trôi dạt lên Đắk Lắk, người đàn ông đói rách đã giang rộng vòng tay cứu vớt cuộc đời mẹ con bà.
Cuộc trốn chạy khỏi địa ngục và hạnh phúc chẳng tày gang của người “vợ nhặt”
Cuộc trốn chạy khỏi địa ngục và hạnh phúc chẳng tày gang của người “vợ nhặt”

“Về với tôi cho vui. Để khi tôi chết còn có người khóc chứ”

Quệt vội giọt mồ hôi trên trán, bà ngẩng mặt lên, có chút ngỡ ngàng, bối rối. Hỏi bà có phải là vợ ông Bảy không? Bà khẽ gật đầu rồi nghẹn ngào: “Ông Bảy mất rồi mà”. Ông Bảy là người nổi tiếng ở đây, mặc dù ông rất nghèo và đơn độc.
Người ta biết đến ông bởi sự thánh thiện trong nhân cách và câu chuyện “nhặt vợ” đầy nước mắt. Người “vợ nhặt” đứng trước mặt tôi, vẫn còn nguyên nét đau khổ của một người đàn bà bất hạnh. Bà tên thật là Nguyễn Thị Hiền (SN 1964, thường gọi bà Hai, quê Quảng Ngãi). 

Ngày trẻ bà xuân sắc lắm, vì thế mới có nhiều anh trai làng nhòm ngó. Cuối cùng bà phải lòng anh thợ điện đẹp trai, dẻo mồm. Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, khi đứa con gái vừa lọt lòng cũng là lúc người chồng đổ đốn, dính vào “cái chết trắng”. Những đêm phê thuốc, bất chấp tất cả, ông ta lao vào túm tóc vợ mà giật, mà chà đạp.

Vào một đêm mưa gió mù trời năm 2000, ông chồng loạng choạng lết cái xác say mèn về nhà, ông lôi đầu vợ dậy hành hạ. Đứa con gái giật mình thức giấc, khóc thét lên, ông ta nhấc con bé lên, định ném xuống đất vì tội… khóc nhiều. Bà quỳ sụp dưới chân ông van lơn, gào thét cầu cứu. Giật lại được con, bà chạy một mạch ra đường. 

Cuộc trốn chạy khỏi địa ngục và hạnh phúc chẳng tày gang của người “vợ nhặt”
Lấy phải gã chồng nghiện ngập, bà Hai từng phải hứng chịu những trận đòn vô cớ
 

Bà trôi dạt lên cao nguyên, xin đi rửa bát thuê cho một quán cơm, chỉ mong người ta cho hai mẹ con ăn no và một chỗ ngả lưng. Những ngày ôm con vạ vật đầu đường xó chợ, bà gặp được ông. Ông thương phận đàn bà đứt gánh giữa đường, không nơi bấu víu, mới mang hai mẹ con về túp lều dựa lưng vào nghĩa trang TP. Buôn Ma Thuật (Đắk Lắk). Bà ái ngại dùng dằng không muốn về. 

Nghĩ đến đàn ông, nỗi đau trong bà lại trỗi dậy, hình ảnh người chồng cùng những đòn roi kinh hoàng vẫn ám ảnh bà. Ông nắm tay động viên: “Về ở với tôi cho vui cửa vui nhà. Khi nào tôi chết còn có người khóc chứ”. Nhìn ông cười hiền lành, nghe ông kể về cuộc đời, bà bỗng thấy mủi lòng. 

Tên cúng cơm của ông là Lê Văn Tỷ, nhưng người ta cứ gọi là ông Bảy. 52 tuổi, ông Bảy vẫn còn là trai tân. Ngày xưa đi chiến đấu ở biên giới Tây Nam, ông bị thương vào đầu và “vùng kín”. Ngày trở về, ông như người ngơ ngẩn, cộng thêm nỗi khổ “vô sinh” khiến ông mặc cảm nên lủi thủi rời quê Phú Yên lên Đắk Lắk. Ông từng làm đủ thứ nghề, những năm sau này ông chuyển sang làm nghề lau chùi mộ ở nghĩa trang và coi đó là niềm vui cho cuộc đời đơn độc. 

Từ ngày “nhặt” được hai mẹ con bà Hai, ông vui hơn rất nhiều. Mỗi ngày ông dậy thật sớm, mang xô, chổi vào nghĩa trang dọn dẹp, lau chùi. Người ta trả công cho ông mỗi ngôi mộ 50 ngàn đồng/tháng. Lúc trước sống một mình, ông ăn gì cũng được, qua loa là xong. Nay có thêm hai miệng ăn nữa, ông phải chắt chiu từng đồng để mua gạo. 
 
Cuộc trốn chạy khỏi địa ngục và hạnh phúc chẳng tày gang của người “vợ nhặt”
Người ta thương bà, mách bà vào nghĩa trang nhận lại phần mộ của ông Bảy mà làm
 
Ái ngại trước tấm lòng bao la của ông Bảy, bà Hai địu con đi lượm ve chai phụ thêm tiền ăn. Những ngày mưa dầm, hai mẹ con ướt như chuột lột ngoài đường. Có lần nước mưa ngấm vào người lâu quá, bà Hai đổ bệnh cả tuần, ông Bảy phải nhờ người khác lau mộ để ở nhà lo cơm cháo cho hai mẹ con. Sau, ông không cho bà đi lượm ve chai nữa. Ngày nào bà khỏe thì xách chổi vào nghĩa trang quét dọn cùng ông.

Ông nhận 50 ngôi mộ, lau chùi chỉ buổi sáng là xong. Buổi chiều không có việc gì làm, ông đi lượm ve chai. Thân ông còm cõi, dật dờ khoác cái bao trên lưng đi bới từng đống rác, nhặt từng vỏ chai, bịch bóng. Tiến kiếm được, ông đưa hết cho “vợ” chi tiêu. 
Con bà Hai đến tuổi đi học, ông làm lại giấy tờ, nhận là cha của đứa bé. Ông thương đứa bé chẳng khác nào con đẻ của mình. Ông lo cho nó từng miếng ăn, giấc ngủ, đưa đón nó đi học. Căn bệnh lao phổi của ông âm ỉ nhiều năm chợt bùng phát. Chỉ trong ba tháng mùa mưa, bệnh tật quật ngã ông.

Ông cố gắng vùng dậy đi ra nghĩa trang lau mộ nhưng có hôm ngã gục ở đó, may mà có người nhìn thấy, dìu ông về. Thương chồng, bà Hai nhận làm tất cả những việc đó thay ông. Mỗi khi về nhà, nhìn lên chiếc phản tre ọp ẹp, ông Bảy đang nằm co quắp ở đó, thở thoi thóp, bà Hai lại quay đi, khóc. Hầu như đêm nào bà cũng lặng lẽ khóc. 
 
Ông Bảy ra đi vào một ngày mưa thối đất thối cát của Tây Nguyên. Mẹ con bà Hai choàng khăn tang ngất lên ngất xuống. Sống với nhau vỏn vẹn 5 năm, chưa bao giờ ông Bảy to tiếng với mẹ con bà, chưa bao giờ ông than phiền chuyện khó khăn vất vả.

Dù chưa một lần gọi nhau bằng chồng vợ, nhưng trong tim bà Hai, ông Bảy chính là bờ vai, là người đàn ông tuyệt vời nhất trong cuộc đời bà. Mất đi chỗ dựa tinh thần, bà Hai đau khổ, hụt hẫng và chơi vơi một thời gian. Người ta thương bà, mách bà vào nghĩa trang nhận lại phần mộ của ông Bảy mà làm. Vừa có tiền nuôi con vừa đỡ nhớ ông. 
 
“Người mẹ” của hàng trăm hài nhi
 
Nỗi đau mất mát dần vơi, bà Hai tìm thấy niềm vui trong việc lau mộ. Tuy nhiên, nỗi nhớ về ông Bảy chưa bao giờ phai mờ trong tâm trí của bà. Lâu lâu vẫn có người tới nghĩa trang chợt hỏi tên ông Bảy, bà Hai ngơ ngác rồi gục đầu xuống mộ khóc nức nở. Ngoài công việc quen thuộc ở nghĩa trang, bà Hai còn là người “cưu mang” những hài nhi xấu số. Người ta mang đến nghĩa trang vứt bỏ, nhìn thấy cảnh đó, lương tâm bà day dứt, dằn vặt, bà lặng lẽ nhặt xác hài nhi mang đi chôn cất.

Có người đàng hoàng tử tế, gói con vào tấm vải sạch, ghi vài dòng cảm ơn. Nhưng cũng có người để con vào bọc nilon dơ dáy, mang tới vứt ở cổng nghĩa trang hay treo lên cành cây mặc cho ruồi, kiến bu bám. 
 
Tiếp nhận những mảnh đời xấu số đó, nếu chưa thành hình thì bà để vào hũ tiểu, dán lại cẩn thẩn mới mang đi chôn. Nếu các bé đã thành hình hài, bà tắm rửa sạch sẽ, cuốn vào tấm khăn trắng cho ấm áp. Trước khi chôn, bà luôn nguyện cầu cho các linh hồn được bình an, siêu thoát. 
 
Cuộc trốn chạy khỏi địa ngục và hạnh phúc chẳng tày gang của người “vợ nhặt”
 Ngoài công việc quen thuộc ở nghĩa trang, bà Hai còn là người “cưu mang” những hài nhi xấu xố
 
Bà Hai tâm sự: “Nhiều đêm về, tôi ám ảnh không sao chợp mắt được. Có những bé bị vứt bỏ khi đã có hình hài trọn vẹn. Thương lắm, mà không biết phải làm sao. Có những hài nhi hoàn toàn khỏe mạnh, chỉ còn ít ngày nữa là chào đời nhưng cũng bị tước đi sự sống. Sao người ta lại có thể vô cảm với chính giọt máu của mình như vậy”. 
 
Hơn 3 năm qua, tự tay bà đã chôn cất hàng trăm hài nhi. Bà còn chăm nom, quét dọn và cắm hoa cho linh hồn nhỏ bé được ấm áp. Ngày mồng hai tết năm ngoái, bà đi lau mộ, gặp một cô gái còn rất trẻ đang quỳ phục trước ngôi mộ hài nhi khóc. Trong tâm, bà mường tượng được cô gái đó là ai, vì sao lại khóc? Thấy bà, cô gái lau nhanh nước mắt nhưng vẫn nấc lên thành tiếng. Bà chỉ nói một câu: “Cứ khóc đi”. Cô nắm chặt tay bà, dúi mấy trăm ngàn và nói: “Nhờ dì chăm sóc giúp con”.  
 
Hơn 10 năm sống bám nghĩa trang, chứng kiến vô vàn những câu chuyện đau thương tang tóc, có những lúc bà Hai muốn từ bỏ để đi kiếm một cái nghề nào ít nước mắt hơn. Nhưng bà không thể đi, vì tình yêu với ông Bảy và bao nhiêu hài nhi đang mong chờ bàn tay cứu rỗi của bà.  
Theo Báo Người Giữ Lửa
Tâm Sự Gia Đình