Tin tức -

Cuộc hôn nhân không tì vết của cô chủ quán bại liệt và người cựu binh tù Côn Đảo

(Tamsugiadinh.vn) - Nghe xong lời tỏ tình của người thương binh bán bánh mỳ, tim bà Gấm như bị ai bóp nghẹt. Cả đêm hôm ấy, bà chủ quán bại liệt trằn trọc suy nghĩ. Bà không bao giờ nghĩ mình lại có cuộc hôn nhân viên mãn đến thế!
Cuộc hôn nhân không tì vết của cô chủ quán bại liệt và người cựu binh tù Côn Đảo
Cuộc hôn nhân không tì vết của cô chủ quán bại liệt và người cựu binh tù Côn Đảo
“Tôi muốn chăm sóc cho em cả đời này”
 
Mẹ mất khi Nguyễn Thị Gấm (SN 1950, quê ở Vĩnh Cửu, Đồng Nai) mới 3 tuổi. Lên 8 thì Gấm bị liệt hai chân và một cánh tay sau một trận sốt phát ban. Ngày đó, chiến tranh còn khốc liệt, bệnh viện nghèo nàn, thiếu thốn trang thiết bị nên bệnh của bà xem như “vô phương cứu chữa”. 
 
Không cam tâm nhìn con gái tàn héo cuộc đời trên đôi chân teo tóp, cha đã đưa bà lên một bệnh viện ở TP. HCM với hy vọng “còn nước còn tát”. Các bác sĩ người Mỹ tiến hành ca mổ nhiều giờ đồng hồ, rạch nát hai cẳng chân nối các mạch máu, thông huyết để “chữa” bại liệt. 
 
Nhờ Tây y can thiệp, đôi chân của bà có thể cử động được, có thể chống nạng lết từng bước chứ không “mềm nhũn” bất động như lúc đầu. Gấm đến trường bằng đôi chân của cha, sau này lên cấp hai thì tự chống nạng đi. 
 
Cuộc hôn nhân không tì vết của cô chủ quán bại liệt và người cựu binh tù Côn Đảo
Lần đầu tiên cặp đôi Cần – Gấm được tổ chức lễ cưới sau 40 năm chung sống
 
Nhưng ngày đó khắp vùng chẳng có ai bị bại liệt, Gấm xuất hiện trên đường như một “sinh vật lạ”, mọi người ném ánh nhìn đầy miệt thị và khinh thường vào cô bé. Gấm cảm nhận rõ rệt sự cay đắng đó. 
 
Năm 18 tuổi, cha Gấm đột ngột qua đời bỏ lại đàn con nheo nhóc, không biết bấu víu vào đâu. Riêng Gấm cô độc một mình, ba tháng dặt dẹo không biết đi đâu, làm gì với cái thể xác èo uột, khẳng khiu. 
 
Sau đó ít lâu, Gấm được đón vào cô nhi viện. Những ngày sống trong cô nhi viện, Gấm được ăn no, mặc lành nhưng sự khác biệt về cơ thể vẫn khiến Gấm tách rời những đứa trẻ khác. Năm Gấm 20 tuổi, cô nhi viện giải tán. Tất cả những đứa trẻ được trả về địa phương, tự xoay xở cuộc sống. 
 
Gấm quay về mảnh đất của cha mẹ để lại ở Vĩnh Cửu, dựng một túp lều ven đường, mở tiệm tạp hóa. Người dân thương cô Gấm tàn tật nên ghé mua ủng hộ quả trứng gà, gói mỳ tôm. Bà chủ quán sống lay lắt bằng những đồng lời bạc lẻ, đêm về gặm nhấm nỗi cô độc. 

Chiến tranh kết thúc, người đàn ông tên Nguyễn Văn Cần (hơn Gấm một tuổi) làm nghề bán bánh mỳ ở xã bên hay ghé quán của bà mua nước uống. Ngày nào ông cũng ghé quán, có khi chẳng thèm đi buôn bán gì, thúng bánh mỳ ế cứ đầy ắp trên xe. Lúc đầu, bà tế nhị đuổi khéo, sau ông… lì quá bà đuổi thẳng thừng. Nhưng càng đuổi thì ông càng lui tới thường xuyên. 
 
Những hôm trời mưa vần vũ, ông vẫn khoác áo mưa, gồng mình đạp xe đến quán, dường như chỉ để nhìn ngắm bà chủ. Đuổi mãi ông không chịu đi nên bà cũng chán, rồi mặc kệ ông, muốn đến lúc nào thì đến.
 
Cuộc hôn nhân không tì vết của cô chủ quán bại liệt và người cựu binh tù Côn Đảo
Bà Gấm mỉm cười hạnh phúc khi nhắc về chồng
 
Ông hỏi bà chuyện gia đình, chuyện tương lai, bà gắt gỏng quát vào mặt ông: “Mắc mớ chi hỏi kỹ vậy. Tôi sống sao mặc kệ tôi”. Nói rồi, bà chỉ muốn ông đi cho khuất mắt. Bà thờ ơ, lãnh đạm với ông bao nhiêu thì ông quan tâm sâu sát về cuộc sống của bà bấy nhiêu. 
 
Ông âm thầm tìm hiểu về lai lịch và hoàn cảnh của bà. Khi biết bà mồ côi cả cha lẫn mẹ, một thân một mình sống ở lều quán, ông càng thương bà hơn. Bà thì không quan tâm ông là ai, từ đâu đến, giàu hay nghèo? 
 
Cho đến một hôm, chiếc xe đạp của ông bị hỏng, ông khập khiễng dắt tới quán trong trạng thái một bên sườn bị lệch, bước đi liêu xiêu. Tính làm ngơ nhưng thấy xót lòng quá, bà hỏi ông vì sao người lại méo thế? Mắt ông long lanh, ông cười thật hiền từ rồi trả lời: “Tôi là thương binh mà. Ngày trước, tôi chiến đấu ở đây rồi bị bắt đày ra Côn Đảo. Cai ngục tra tấn dã man, may mà còn sống trở về”. 
 
Nghe vậy, bà thấy cảm kích vô cùng những người lính như ông. Bà bắt đầu lắng nghe ông nói, bắt đầu chịu nhìn thẳng vào đôi mắt ông. Rồi bà phát hiện ra ông rất đẹp trai, nhất là khi ông cười. Những lúc như thế, tim bà rung lên, rạo rực thổn thức. Đợi cho lòng bà xiêu, ông mạnh dạn ngỏ lời: “Tôi thương Gấm, muốn được che chở, chăm sóc cho em cả đời này”. 
 
Hình ảnh người thương binh với nụ cười thánh thiện và cả dáng đi lam lũ mưu sinh đã choáng hết tâm hồn bà. Bà nghĩ, nếu như cha mẹ ông còn sống chắc chắn sẽ không chấp nhận người con dâu què quặt như mình. Nhưng giờ đây, cả hai đều mô côi, đều cô độc nên sẽ chẳng có rào cản nào khiến bà không bước tới. Và điều quan trọng, tình yêu ông dành cho bà vô cùng mãnh liệt. Cuối cùng, bà đã gật đầu làm vợ ông. Năm đó bà 27 tuổi. 
 
40 năm làm vợ mới được mặc áo cưới
 
Hai người đến với nhau không mâm cao cỗ đầy, không áo cưới xe hoa. Họ tự tổ chức bữa cơm cúng cha mẹ hai bên và mời tổ tiên về chứng giám. Sau đó, Nguyễn Văn Cần dọn về quán tạp hóa của vợ chung sống. 
 
Từ ngày lấy vợ, ông Cần luôn dành mọi việc nặng nhọc về mình. Ngày vợ báo tin có thai, ông bỏ hẳn xe bánh mỳ chạy về ôm vợ ăn mừng. Niềm vui theo ông cho đến tận ngày vợ hạ sinh một bé trai kháu khỉnh, lành lặn và giống ông như đúc. Để có tiền nuôi con, ngoài xe bánh mỳ bán dạo, ông bà lao vào chăn nuôi, sản xuất. 
 
Cuộc hôn nhân không tì vết của cô chủ quán bại liệt và người cựu binh tù Côn Đảo
Vợ chồng bà Gấm cùng cậu con trai út 

Bao nhiêu vốn liếng, hai vợ chồng đổ hết vào đàn heo những mong sẽ sinh lời. Ai ngờ, heo bị dịch chết hết, để lại cho ông bà món nợ khổng lồ. Giữa lúc không có việc làm, chán nản với thời cuộc thì bà Gấm lại có thai. Bà sinh con trong muôn vàn khó nhọc và dị nghị của xóm làng: “Người thế mà đẻ nhiều thì lấy gì nuôi con”. 
 
Quay cuồng trả nợ không nổi, bà bàn với ông bán nhà cửa đất đai để trả hết nợ rồi cả gia đình kéo nhau lên TP. HCM bán vé số. Trả xong nợ, bà còn hơn 100 ngàn đồng giắt lưng lên thành phố. 
 
Bà may mắn gặp lại một người bạn ở cô nhi viện năm xưa. Người này đã giúp hai vợ chồng tìm chỗ trọ và mua tặng đồ dùng sinh hoạt. Để duy trì cuộc sống, bà nhận may gia công tại nhà, còn ông Cần đi bán bánh, cái nghề quen thuộc ngày xưa của ông. 
 
Trải qua những năm tháng chung lưng đấu cật vun vén xây dựng tổ ấm, bây giờ con trai lớn của ông bà đã lấy vợ sinh con, con út vừa học xong đại học. Họ đã cùng nhau đi qua cuộc hôn nhân kéo dài 40 năm trong đói khổ, chật vật nhưng chưa bao giờ hết yêu thương nhau. Ông luôn là đôi chân, bờ vai của bà. Với bà, chồng và con chính là lẽ sống, là món quà quý giá nhất mà thượng đế ban tặng. 
 
Ngày 20/10/2015, Hội giáo dục nghề nghiệp TP. HCM cùng Trung tâm bảo trợ người tàn tật TP. HCM đến nhà ngỏ ý tài trợ cho ông bà một cái đám cưới. Lúc đầu bà Gấm giãy nảy phản đối. Bà bảo: “Vợ chồng tôi sống với nhau đến bạc đầu rồi còn cưới xin gì nữa”. Mọi người khuyên mãi và các con cũng hết lời động viên nên bà miễn cưỡng gật đầu. 
 
Lần đầu tiên sau 40 năm làm vợ, bà Gấm được mặc áo cô dâu, được tô son điểm phấn. Ông Cần ngượng ngùng khoác bộ vest thẳng tắp nếp gấp. Lễ cưới của họ có sự tham dự của con cháu và bạn bè. Đến bây giờ bà Gấm vẫn còn ngỡ như đó là một giấc mơ... 
 Hà Hoa
Theo Báo Người Giữ Lửa
Tâm Sự Gia Đình