Pháp Luật -

Con nuôi riêng của người mẹ có được hưởng thừa kế như con đẻ?

(Tamsugiadinh.vn) - Sau 2 năm mẹ nhận tôi về nuôi, bà lấy chồng và sinh được hai người con. Năm 2014, ông bà qua đời đột ngột và không để lại di chúc...
Con nuôi riêng của người mẹ có được hưởng thừa kế như con đẻ?
Con nuôi riêng của người mẹ có được hưởng thừa kế như con đẻ?

Mẹ nuôi tôi kể lại, tôi là con của người bạn thân, bố ruột của tôi đã bỏ đi khi biết mẹ tôi mang bầu. Vài năm sau mẹ tôi cũng ra đi vì bệnh tật. Vì thế mẹ nuôi đã mang tôi về chăm sóc và dạy bảo như chính con ruột của mình.

Sau 2 năm nhận tôi làm con nuôi, mẹ nuôi tôi kết hôn và sinh được hai người con. Chúng tôi cứ thế lớn lên cùng nhau. Đầu năm 2014, bố mẹ nuôi tôi mất đột ngột do tai nạn và không để lại di chúc.

Con nuôi riêng của người mẹ có được hưởng thừa kế như con đẻ?

Không phải là con đẻ nhưng tôi đã sống cùng bố mẹ từ khi các em chưa chào đời

Hai người em làm đơn xin chia di sản nhưng lại gạt tên tôi ra khỏi danh sách những người được thừa kế với lý do tôi không phải con đẻ. Theo luật, tôi có được hưởng phần di sản thừa kế do cha mẹ nuôi tôi để lại không?

Chào bạn, chúng tôi rất thông cảm với hoàn cảnh lúc này của bạn. Trường hợp của bạn có thể được giải quyết như sau:

Theo Điều 675 Bộ luật Dân sự, trong trường hợp người để lại di sản thừa kế mất mà không để lại di chúc, việc chia di sản cho những người thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 676, những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ hôn nhân và gia đình, pháp luật quy định những người thừa kế cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau mà không phân biệt con đẻ, con nuôi.

Như vậy, kể cả khi chỉ là con nuôi, bạn có quyền hưởng phần di sản thừa kế do bố mẹ nuôi để lại ngang với các con đẻ của bố mẹ nuôi. Tuy nhiên, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chỉ được xác lập khi:

- Tại thời điểm nhận nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi được đăng ký tại UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú của cha mẹ nuôi hoặc con nuôi;

- Trường hợp việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế mà chưa đăng ký trước ngày 1/1/2011, nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật nuôi con nuôi thì được đăng ký kể từ ngày 1/1/2011 đến hết ngày 31/12/2015 tại UBND cấp xã nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi (căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi).

Khoản 1 Điều 50 quy định điều kiện gồm:

a) Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;

b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống;

c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

Như vậy, nếu việc nuôi con nuôi giữa bạn và bố mẹ nuôi của bạn đã được đăng ký theo quy định nêu trên thì quan hệ nuôi con nuôi được xác lập. Do đó bạn có quyền hưởng phần di sản thừa kế do bố mẹ nuôi để lại và ngược lại.

Bạn cũng cần lưu ý rằng, ngay cả trong trường hợp mẹ nuôi đã hoàn tất thủ tục đăng ký nuôi con nuôi trước khi kết hôn, nhưng sau khi kết hôn chồng của mẹ nuôi bạn (tức là bố nuôi) không làm thủ tục đăng ký nuôi con nuôi với bạn thì quan hệ con nuôi giữa bạn và bố nuôi không được xác lập.

Hay nói cách khác, việc kết hôn của mẹ nuôi không nghiễm nhiên làm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi giữa bạn và chồng của mẹ nuôi anh.

Do vậy, khi bố mẹ nuôi bạn mất đi mà không để lại di chúc, bạn chỉ có quyền hưởng phần di sản thừa kế do mẹ nuôi để lại mà không được quyền hưởng phần di sản thừa kế của bố nuôi.

Theo MASK
Tâm Sự Gia Đình