Pháp Luật -

Bị vợ người tình tố cáo là nguyên nhân gây đổ vỡ gia đình, em có phải hầu tòa?

(Tamsugiadinh.vn) - Nghe nói gia đình họ đã làm đơn ly hôn, trong đơn chị ta nói em là nguyên nhân chính khiến cho gia đình chị tan vỡ và yêu cầu tòa án mời em đến. Chị ta có quyền làm vậy không, em có phải hầu tòa không?
Bị vợ người tình tố cáo là nguyên nhân gây đổ vỡ gia đình, em có phải hầu tòa?
Bị vợ người tình tố cáo là nguyên nhân gây đổ vỡ gia đình, em có phải hầu tòa?
Em sinh năm 1985, là giáo viên. Em có quan hệ tình cảm với một anh hơn em 10 tuổi, đã có vợ và 2 con. Chúng em quen nhau đã lâu, nhưng gắn bó chỉ khoảng 1 năm nay.
 
Cách nay 4 tháng, vợ anh ta phát hiện ra mối quan hệ này. Chị ta làm ầm lên, nhắn tin, gọi điện chửi bới em, nhưng em đã đổi số điện thoại.
 
Chị ta còn làm đơn tố cáo bỏ vào nhà em và gửi đến ban quản lý chung cư nơi em ở. Chị còn nói đã thuê thám tử theo dõi em, dọa sẽ gửi đơn tố cáo đến nơi em làm việc, đến gia đình và địa phương của em.
 
Bằng chứng chị ta có là những tin nhắn tình cảm qua lại giữa em và chồng chị; những cuộc gọi buổi trưa khi tụi em hẹn gặp nhau và ngoài giờ làm việc… 
 
Trong những tin nhắn đó em có hạch hỏi anh kia một số chuyện như đang ở với ai mà không nghe điện thoại, sao đón mẹ vợ anh chu đáo thế.... Khi nhắn tin với anh, em gọi anh ấy là chồng, là xã và xưng là vợ. Anh ấy cũng xưng hô là chồng với em.

Chúng em qua lại với nhau nhưng không có con chung. Em có nhận của anh kia ít quà, tiền bạc (chị ta có bằng chứng chồng chị chuyển tiền cho em) và nhờ vả anh những chuyện lặt vặt như đưa đón người thân, sửa xe, mua thứ này thứ nọ trong nhà… 
 
 Bị vợ người tình tố cáo là nguyên nhân gây đổ vỡ gia đình, em có phải hầu tòa?
Chị ta thuê thám tử theo dõi và dọa sẽ làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan và địa phương em (ảnh minh họa) 
 
Anh có công ty riêng nên anh đã đứng ra chứng nhận giùm là em đang công tác ở cơ quan anh để em vay vốn ngân hàng mua căn hộ chung cư.
 
Xin luật sư cho em hỏi vợ anh làm đơn tố cáo em thế là đúng hay sai? Chị ta có quyền tố cáo em không?
 
Em phải làm gì bây giờ? Từ ngày bị chị ta phát hiện, chúng em đã không qua lại với nhau nữa, thi thoảng chỉ nhắn tin gọi điện hỏi thăm tình hình của nhau thôi. Anh kia xác định vẫn còn thương và muốn lo cho hai con của anh với chị ta.
 
Em nghe nói gia đình họ đã làm đơn ly hôn. Trong đơn chị ta có nói em là nguyên nhân chính khiến cho gia đình chị tan vỡ và yêu cầu tòa án mời em đến. Cho em hỏi chị ta có quyền làm vậy không, em có phải hầu tòa không?
 
Trong chuyện này, em sẽ bị kết vào tội gì vì chị ta không chứng minh được em và chồng chị chung sống với nhau như vợ chồng. Chị ta chỉ có bằng chứng là trong điện thoại của anh có địa chỉ wifi nhà em, bảo vệ khu chung cư và hàng xóm nhà em có xác nhận có xe anh đến đó. 
 
Hôm chị ta gọi điện đến, em còn thừa nhận là em có quan hệ với chồng chị ta và còn thách chị ta đến gặp em thì em sẽ nói cho chị ta biết anh ấy sống với chị có cảm giác như thế nào, vì chán ngán chị nên anh ấy mới đến với em...
Chào bạn

Qua câu hỏi của bạn, chúng tôi biết rằng bạn đang lo lắng việc người vợ đang yêu cầu tòa án triệu tập bạn tham gia vụ kiện ly hôn giữa hai vợ chồng họ với khiếu nại bạn chính là nguyên nhân gây ra việc ly hôn.
 
Tuy nhiên, về nguyên tắc tòa án giải quyết việc ly hôn chỉ là việc công nhận của vợ chồng khi họ không muốn cùng chung sống như vợ chồng nữa mà không cần phải xác định nguyên nhân nào dẫn đến sự đổ vỡ trong cuộc sống hôn nhân này. 
 
Do vậy, nếu chỉ để xác định cơ sở cho việc ly hôn giữa hai vợ chồng, tòa án sẽ chỉ cần xác định rõ là giữa người vợ và người chồng không còn tình cảm và không mong muốn chung sống với nhau nữa, mà không cần xét đến những yếu tố bên ngoài có thể là nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn giữa hai vợ chồng. 
 
Việc người vợ có những chứng cứ là điện thoại của chồng lưu giữ địa chỉ wifi tại nhà bạn hoặc hàng xóm, bảo vệ chung cư xác định người chồng có đến nhà bạn chỉ được xem là yếu tố bên ngoài và không phải là yếu tố cần thiết để tòa án xem xét việc ly hôn. 
 
Tương tự như vậy, cho dù giữa bạn và người chồng ấy có những tin nhắn thân mật hơn mức quan hệ bạn bè thì cũng không phải là yếu tố cần thiết để tòa án cần phải triệu tập bạn đến phiên tòa.
 
Tuy nhiên, cũng cần xác định rằng việc người vợ có làm đơn tố cáo và gửi đến nơi ở cũng như cơ quan nơi bạn công tác với những bằng chứng như bạn cho biết là hoàn toàn có cơ sở. Nếu người vợ có những chứng cứ về việc bạn và chồng chị ấy qua lại với nhau nhưng chưa có con chung, thì Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: 
 
Cấm các hành vi sau đây:
 
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; 

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;…”.
 
Do đó, trong trường hợp người vợ kia và người chồng chưa ly hôn mà bạn đã có hành vi chung sống với người chồng đã có gia đình, thì bạn có thể bị xem vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều cấm của pháp luật. 
 
Vì thế, nếu người vợ kia gửi đơn lên Ủy ban nhân dân xã (phường) đề nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật của người chồng và bạn nếu có những chứng cứ rõ ràng thì  theo quy định tại Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã:
 
"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
 
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. 
 
Như vậy, bạn có thể phải chịu xử phạt hành chính nếu thuộc vào hoàn cảnh nói trên.
Theo Mask
Tâm Sự Gia Đình