Ly hôn rồi về sống chung có cần đăng ký lại không?

Chúng tôi ly hôn đã 3 năm và mới đây quyết định về sống chung với nhau để con có đủ cha, đủ mẹ nhưng lại ngại đi làm giấy đăng ký kết hôn. Nếu cứ về sống chung với nhau, chúng tôi có bị phạt không?
Ly hôn rồi về sống chung có cần đăng ký lại không?
Ly hôn rồi về sống chung có cần đăng ký lại không?

Ly hôn rồi về sống chung có cần đăng ký lại không?

Chúng tôi quyết định về sống chung với nhau để con có đủ cha, đủ mẹ nhưng lại ngại đi làm giấy đăng ký kết hôn

Kính chào luật sư! Vợ chồng tôi năm nay đều 35 tuổi. Chúng tôi lấy nhau được 7 năm thì ly hôn vì thấy cuộc sống gia đình quá ngột ngạt. Chúng tôi chia tay đã được gần 3 năm. Mỗi người có một cuộc sống và công việc riêng, kinh tế ổn định hơn.

Nói là ly hôn nhưng khoảng thời gian không sống chung, chúng tôi vẫn qua lại, quan tâm chăm sóc nhau. 

Về mặt tình cảm, có lẽ vì có khoảng thời gian đủ dài để suy nghĩ nên chúng  tôi nhận ra rằng cả hai vẫn còn yêu nhau. Việc cha mẹ chia tay làm cho con gái chúng tôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Cháu thường đòi sống chung với cha mẹ, thường hay buồn, ủ rũ, có khi lại cáu gắt… 

Vừa qua, chúng tôi quyết định về sống chung với nhau để con có đủ cha, đủ mẹ nhưng lại ngại đi làm giấy đăng ký kết hôn. Cho tôi hỏi, chúng tôi có thể về sống chung với nhau được không, chúng tôi có gặp trở ngại gì không, có bị phạt không?

Trần Thanh Tú (tutran1812...@gmail.com)

Chào bạn, chúng tôi xin gửi lời chúc mừng tới bạn khi hai vợ chồng đã quay lại sống với nhau để cùng chăm lo cho con gái và xây dựng hạnh phúc gia đình. Đối với các câu hỏi bạn đưa ra, theo quy định của pháp luật, chúng tôi xin trả lời như sau: 

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và các quy định hướng dẫn thi hành thì hoàn toàn không cấm và không xử lý vi phạm hành chính hay hình sự khi vợ chồng đã ly hôn quay trở về sống với nhau (trừ trường hợp một trong hai vợ chồng bạn hoặc cả hai vợ chồng bạn đã kết hôn với người khác). 

Tuy nhiên, hai bạn đã ly hôn, giờ trở về sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn lại theo quy định thì không được pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân này, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng và hậu quả của việc làm này được quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình:

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Vì vậy, theo chúng tôi, khi hai bạn đã xác định sẽ quay trở lại sống với nhau thì nên đăng ký kết hôn lại để có thể đảm bảo quyền lợi cho hai bạn cũng như con của mình. Hai bạn cũng không nên ngại đi làm giấy đăng ký kết hôn bởi nếu không đăng ký kết hôn thì sẽ không phải là vợ chồng, không được pháp luật công nhận và có thể ảnh hưởng rất nhiều vấn đề liên quan đến tải sản, con cái sau này. 

 Khi hai bạn đã xác định sẽ quay trở lại sống với nhau thì nên đăng ký kết hôn lại để có thể đảm bảo quyền lợi cho hai bạn cũng như con của mình

Thủ tục đăng ký kết hôn lần hai của hai bạn cũng giống với thủ tục kết hôn lần đầu tiên. Cụ thể:  

1. Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân.

Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó. Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó. Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại chương V của Nghị định này. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận. 

2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ. Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày.

3. Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt. Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của vợ, chồng.

(Theo Người Giữ Lửa)

loading...

    
Tâm Sự Gia Đình