Những điều cần chú ý khi chế biến cây thù lù thành món ăn

(Tamsugiadinh.vn) - Cây thù lù được Đông y đánh giá là có vị đắng, tính mát, không độc, có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, lợi tiểu, giải độc, tiêu đờm, làm dịu cổ họng… Tuy nhiên, nếu không có bệnh, ăn thù lù nhiều và thường xuyên trong các bữa ăn cũng không phải là tốt.
Những điều cần chú ý khi chế biến cây thù lù thành món ăn
Những điều cần chú ý khi chế biến cây thù lù thành món ăn
Cây thù lù được đề cập về tính năng chữa bệnh là loại thù lù cạnh

Cây thù lù hay nhiều nơi còn gọi là cây tầm bóp – một loại cây dại rất phổ biến ở nông thôn nước ta. Thực ra có 2 loại cây tính năng hoàn toàn khác nhau đều được gọi là thù lù. Một loại là thù lù đực, và một loại là thù lù cạnh.

Cây thù lù đã được đề cập về tính năng chữa bệnh là loại thù lù cạnh. Tuy là cây dại nhưng rau thù lù có vị rất đặc trưng.

Mới ăn, thù lù có vị đắng nhẹ… nhưng ngay sau đó vị đắng này chuyển thành vị ngọt thanh ở đầu lưỡi. Rau thù lù có thể chế biến được nhiều món như nấu canh, luộc, xào với gừng, tỏi hay thịt bò, thịt nạc đều rất ngon…

Hơn nữa, trong thời buổi các loại rau phổ biến chứa nhiều dư lượng kim loại nặng, phân bón và thuốc trừ sâu, rau thù lù bỗng trở thành một thứ đặc sản “hiếm” được người thành phố săn lùng.

Vị đậm đà của món ăn chế biến thù lù rất hợp với cánh đàn ông trong các bữa nhậu. Theo kinh nghiệm của những lương y chữa bệnh bằng thuốc Nam, những cây mới đầu có vị đắng, sau chuyển sang vị ngọt thanh thường là những cây tính mát, bổ gan, thải độc rất hiệu quả.

Những cây này thường mang nhiều tính “âm”, có nghĩa là để cân bằng, các cây có vị đắng như thù lù rất hợp để cân bằng trong các bữa nhậu với các món ăn khác mang tính nóng, ấm như thịt dê, thịt chó.

Cũng vì mang tính mát nên thù lù không phù hợp khi ăn cùng các món tính lạnh như thịt trâu, lươn, ốc, cá. Nếu kết hợp, người ăn sẽ bị trướng bụng, khó tiêu.

Hiện có rất nhiều người nấu canh thù lù kết hợp với ngao, cua… là những thức ăn mang tính lạnh. Thực ra khi ăn sẽ có vị lạ miệng, nhưng không tốt cho sức khỏe, nhất là người có tiêu hóa kém.

Cây thù lù được Đông y đánh giá là có vị đắng, tính mát, không độc, có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, lợi tiểu, giải độc, tiêu đờm, làm dịu cổ họng…  Tuy nhiên, nếu không có bệnh, ăn thù lù nhiều và thường xuyên trong các bữa ăn cũng không phải là tốt.

Có quan niệm rằng thù lù mang tính âm nên nếu ăn quá nhiều sẽ không tốt cho đàn ông trong quan hệ chăn gối. Không những thế, tất cả những cây thuốc nam có vị đắng nhẹ, sau chuyển sang ngọt thanh giống như vị thù lù thì nam giới cũng không nên dùng nhiều.

Tuy vậy, nếu người đàn ông ăn quá nhiều chất đạm, chất bổ, quá ham hố thì thù lù lại có thể giúp họ “hạ hỏa”. Với phụ nữ nếu ăn thù lù thường xuyên khoảng 3 bữa trong một tuần (nếu cơ địa chấp nhận, không bị đầy bụng, khó tiêu) thì da dẻ sẽ mịn màng, hết mụn nhọt, ngủ ngon, rất phù hợp với người bị hay bị stress, bực bội.

Thù lù nếu xào nấu ăn hằng ngày nên gia giảm các vị cay nóng như gừng, tỏi, ớt, tiêu… để cân bằng âm dương.

Cũng chính vì tính “âm” nên mặc dù là vị thuốc chủ đạo, nhưng rất ít khi các bậc lương y dám sử dụng đơn độc một vị cây thù lù mà phải kết hợp với các loại thuốc khác để cân bằng và tăng công dụng chữa bệnh.

Người xưa mặc dù đã có nồi đồng, nồi gang nhưng họ chủ yếu là dùng nồi đất để sắc thuốc

Tại sao lại phải sắc thuốc bằng nồi đất

Đông y có câu, thuốc muốn tốt thì phải biết sắc, điều này đã nói lên tầm quan trọng của việc sắc thuốc. Người xưa mặc dù đã có nồi đồng, nồi gang nhưng họ chủ yếu là dùng nồi đất để sắc thuốc. Họ quan niệm thổ dưỡng mộc, nên nồi đất (thổ) sẽ không làm hại cho các vị thuốc chủ yếu là cây cỏ (mộc).

Nếu dùng nồi kim loại, kim khắc mộc sẽ phá đi tính năng của cây cỏ. Quan niệm này rất trừu tượng, nhưng dưới ánh sáng khoa học thì lại có phần hợp lý. Ví dụ như một số cây cỏ có chứa chất tanin.  

Nếu dùng ấm kim loại sắc thuốc, tanin sẽ kết hợp với kim loại tạo thành tanat sắt, tanat đồng, tanat nhôm… và làm vô hiệu chất thuốc. Một cây số thuốc có vị chua, chứa nhiều axit. Chất axit này sẽ bào mòn kim loại và “khuyến mãi” thêm cho nước thuốc một hàm lượng kim loại nhất định, có thể gây nguy hại cho người bệnh khi đang có thể trạng yếu.

Sắc thuốc, dưới góc độ khoa học, là quá trình thủy phân, chiết xuất hoạt chất dưới tác dụng của nhiệt độ. Quá trình sắc thuốc mất rất nhiều thời gian để dược chất được tách ra triệt để.

Chính vì thế, nếu dùng nồi kim loại đun nấu trong thời gian lâu như vậy là rất không tốt. Hiện nay, trên thị trường có bán loại ấm chuyên sắc thuốc bằng sành cắm điện, vừa an toàn, vừa tiện lợi, không sợ bị cháy thuốc hay hỏng thuốc.

Hiện nay có một số cơ sở nhận sắc thuốc và đóng gói nilon, bệnh nhân chỉ việc mang về để tủ lạnh dùng dần. Cách sắc thuốc này cũng có nhiều hạn chế vì thiết bị làm bằng kim loại, hơn nữa quá trình sắc rất kín để tăng áp suất, nhiệt độ.

Thuốc Bắc thường được bảo quản bằng lưu huỳnh, khi đun sôi kỹ thì lượng lưu huỳnh này sẽ tự bay hơi đi hết. Nếu sắc thuốc trong nồi quá kín thì lượng lưu huỳnh này sẽ khó bay hơi, và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người dùng.

Bác sĩ đời sống

(Theo Tuổi trẻ Đời sống)


    
Tâm Sự Gia Đình