Cây bình bát “cắt đứt” bệnh tiểu đường

(Tamsugiadinh.vn) - Nhiều người dân miền Tây đều biết cây bình bát có độc, nhưng không mấy người biết cây bình bát còn là thuốc quý. Một trong những công dụng của nó là chữa được căn bệnh tiểu đường.
Cây bình bát “cắt đứt” bệnh tiểu đường
Cây bình bát “cắt đứt” bệnh tiểu đường

Cây bình bát là để... diệt rầy, trừ rận

Ông Năm Mến (53 tuổi, ngụ huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) đã kiên quyết không tin khi nghe nói cây bình bát có tác dụng chữa một số bệnh.

Ông dẫn chứng, cây bình bát có độc tính nên nông dân miền Tây từng dùng lá bình bát giã nát, lọc lấy nước làm thuốc diệt rầy trên lúa trong dịch rầy nâu xảy ra từ thập niên 70 của thế kỷ trước. Ông Năm Mến còn dựa trên thực tế ngay tại gia đình ông cách đây 40 năm.

Lần đó, ngay trước ngày xuất giá về nhà chồng, chị gái ông đã dùng hạt bình bát giã nát hòa với nước để gội đầu với mục đích diệt chấy. Nhưng rồi ngày rước dâu hôm sau, chị ông đã về nhà chồng với cặp mắt đỏ hoe, sưng vù…

Thế nên khi biết có không ít người đã khỏi bệnh chính nhờ loại cây mang độc tính này, ông Năm Mến đã rất ngỡ ngàng.

Dù vậy ông vẫn dè dặt cho rằng, chỉ có thầy thuốc mới biết cách “dụng mộc” để lấy độc tố làm nên “độc chiêu”. Còn người dân thì chỉ nên lấy lá bình bát lót dưới ổ gà đang ấp trứng để trừ rận như nhà ông vẫn làm theo kinh nghiệm dân gian.

Bà Đồng Ngọc Diệp (75 tuổi, ngụ ấp Trường Thọ A, xã Trường Long, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ) cũng giật mình khi biết trong toa thuốc Nam mà bà đang uống hàng ngày trong suốt 2 năm qua có vị thuốc chủ lực là bình bát.

Bà Diệp kể, lúc đầu bà chỉ có cảm giác đau nhức âm ỉ trong người, huyết áp lên xuống thường xuyên… nên bà sang phòng thuốc Nam do lương y Phạm Văn Bồi (Tám Bồi, xã Trường Long) phụ trách nhờ coi mạch, hốt thuốc đem về sắc uống.

Bà Đồng Ngọc Diệp chia sẻ với phóng viên

Chừng 2 tháng sau, chứng đau nhức tiêu biến hết nhưng tình trạng huyết áp lên xuống vẫn xảy ra. Trong một lần đi xét nghiệm máu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, bác sĩ hỏi bà có biết mình đang bị tiểu đường không? Bà Diệp mới ngỡ ngàng khi “sát thủ thầm lặng” đã đến với mình từ lúc nào.

Bà Diệp đem kết quả xét nghiệm máu về báo lại với thầy Tám Bồi. Vị lương y này nói với bà Diệp, tuổi già trong người thường hay cùng lúc có nhiều chứng bệnh phải chữa trị, nhưng tùy theo trường hợp và phương pháp chữa trị của từng thầy thuốc mà có những phương dược khác nhau.

Sau khi bắt mạch, hỏi thăm qua triệu chứng những căn bệnh của bà Diệp, thầy Tám Bồi hốt cho bà 7 thang thuốc trị tiểu đường đầu tiên. Ông Tám Bồi còn căn dặn: “Muốn trị tiểu đường thành công, người bệnh cần uống thuốc thời gian dài và cố gắng kiêng cữ trong ăn uống”.

Theo ông Bồi, người bệnh chỉ cần kiêng ăn các loại rau có mủ (nhựa cây – PV) màu trắng đục như rau muống, rau khoai lang, không ăn đường, nước mắm và các loại trái cây có vị ngọt đậm. Ngoài những thứ đó ra, các loại cá, lươn, thịt heo… đều có thể ăn được.

Chỉ số đường huyết của bà Diệp từ mức trên 10 (mmMol/lít) giảm dần theo thời gian uống thuốc. Sau hơn 1 năm uống thuốc theo đơn trị tiểu đường của lương y Tám Bồi, kết quả xét nghiệm sinh hóa máu của bà Diệp hồi cuối tháng 6/2016 cho trị số đường huyết là 8.5 và cuối tháng 7 vừa rồi là 6.6. 

Bà Diệp khoe: “Bác sĩ ở bệnh viện nói tui đã hết tiểu đường rồi”. Trong đơn thuốc của bà Diệp, ông Tám Bồi xác định: “Bình bát là vị thuốc chữa tiểu đường rất hay”. Trong sổ theo dõi bệnh nhân tại phòng thuốc, cũng có nhiều trường hợp đã dứt bệnh tiểu đường nhờ tính dược đặc biệt của loại cây này.

Thầy thuốc thận trọng, người bệnh kiên trì khi sử dụng cây bình bát

Lương Y Phạm Văn Bồi cho biết, mỗi cây thuốc dân gian đều có một số tính dược và cách sử dụng khác nhau. Trong kê toa, thầy thuốc đã thận trọng theo phương pháp riêng của từng người để tránh trường hợp người bệnh tự tìm cây thuốc sử dụng.

Điều này không nằm ngoài mục tiêu ngăn chặn người dùng sử dụng không đúng bộ phận trên cây thuốc (thân, rễ, lá, hoa…). Những cây thuốc có độc dễ dẫn tới nguy hại.

Đối với những toa thuốc có những vị thuốc có độc, ông Tám Bồi chia sẻ biện pháp ngăn chặn bệnh nhân tự sử dụng: “Tôi tự quy ước với các thành viên của tổ thuốc Nam để thay tên những cây thuốc có độc khi ghi trong toa bằng một tên khác theo nguyên tắc gần gũi, dễ nhớ… Đây cũng là biện pháp bảo vệ những bài thuốc quý không bị khai thác theo hướng thương mại tràn lan”.

Còn về hiệu quả chữa tiểu đường của cây bình bát, ông Tám Bồi cho biết: “Trong quá trình sử dụng thuốc của cá nhân tôi kết hợp với kinh nghiệm của những người khác cũng theo nghề thuốc đã cho thấy kết quả bình bát chữa được tiểu đường.

Nhưng cần thiết phải có nhiều vị thuốc khác mang tính hỗ trợ lẫn nhau như: rễ tranh, giò gà, kinh giới, chòi mòi… Trong thực tế còn nhiều vị thuốc quý, bài thuốc hay rất hiệu quả trong sử dụng nhưng chưa được ngành Y công nhận”.

Cây bình bát sau khi chế thành thuốc

Riêng đối với những người có bệnh và tin cậy thuốc Nam như bà Diệp, thoạt đầu mới làm quen với thuốc Nam, mùi hôi, vị đắng… tạo cho bà cảm giác rất khó uống.

Nhưng chỉ sau 1 tuần, cảm giác này mất dần. “Khó khăn nhất là yêu cầu kiêng cử ăn uống trong thời gian uống thuốc”, bà Diệp nói.

- PV TT&ĐS: Duyên cớ nào khiến bà đặt lòng tin vào cây thuốc Nam?

- Bà Đồng Ngọc Diệp: Lúc đầu tui bị đau nhức xương khớp, tăng huyết áp nên nhờ thầy Tám hốt thuốc uống. Uống chừng 2 tháng, tui kiểm tra thường xuyên thấy huyết áp ổn định nên tin thầy Tám hốt thuốc hay. Từ đó, cả nhà tui cũng uống thuốc của thầy Tám chứ không phải mình tui. Rồi khi nghe bác sĩ nói tui đã hết tiểu đường, tui càng mừng và tin tưởng hơn.

- Bà có tìm hiểu sâu về các cây thuốc có trong toa thuốc của bà?

- Là người bệnh, tui đặt hết tin tưởng ở thầy thuốc nên chỉ cần làm đúng như những gì được dặn là đủ rồi, không cần tìm hiểu thêm. Người ta phải hiểu biết thì mới dám làm thầy. Hơn nữa, thuốc của thầy Tám hốt cho nhiều người rất hiệu quả. Tin thuốc thì mới hy vọng hết bệnh!

- Trong thời gian uống thuốc cuộc sống của bà có khó khăn nhiều khi phải kiêng cữ trong ăn uống?

- Lúc đầu cũng hơi khó chịu vì nước mắm là thứ gần gũi với hầu hết các gia đình mà tui phải kiêng, cả một số loại trái cây ngon ngọt nữa. Hơn 2 năm rồi, tui chưa dám ăn rau muống, vì nghe thầy Tám kể nhiều người trị bệnh trong thời gian dài, nhưng chỉ cần ăn hay uống nhầm thì quá trình trị bệnh sẽ uổng công.

- Nhiều người uống thuốc Nam sẽ ngừng uống thuốc ngay khi khỏi bệnh. Còn bà, chỉ số đường huyết hiện đã giảm sát mức “lý tưởng”, bà có dự định ngưng uống thuốc trị tiểu đường?

- Không đâu! Tui vẫn tiếp tục uống thuốc cho tới khi dứt hẳn. Nghe nói, bệnh tiểu đường chỉ được coi là hết khi nào chỉ số đường huyết ổn định liên tục trong hơn 1 năm sau. Nó mới giảm xuống mà ngưng thuốc nó lên trở lại thì cũng như không. Tui cứ uống cho nó tiệt gốc. Hiện thầy Tám đang hốt thuốc chữa tiểu đường và thận suy cho tui uống tiếp.

- Bà đã tìm hiểu gì về bệnh tiểu đường mà “tuyên chiến” tới cùng với nó?

- Nghe người ta nói tiểu đường là bệnh khó chữa, nhưng theo tui do người ta ăn uống không kiêng cữ. Còn tui vì sợ mù mắt, bị thương tích không lành, khó chữa trị những chứng bệnh khác… nên cố gắng buộc mình trong ăn uống để chữa cho dứt bệnh này.

Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu gần đây nhất của bà Diệp

Cây bình bát quen thuộc nhưng ít người hiểu “tính nết”

Cây bình bát còn có nhiều tên gọi khác như: bình bát nước, cây nê, đào tiên… thuộc họ na. Một số vùng miền Bắc còn gọi là quả na xiêm. Cây phát triển có chiều cao trong khoảng 5m – 7m. Lá hình mác thuôn dài.

Cây ra hoa khoảng tháng 5 – 6 hàng năm, mùa quả tháng 7 – 8, quả chín ăn được. Theo các tài liệu ghi chép, bình bát có thể sử dụng lá, rễ, hạt để làm thuốc.

Theo từ điển cây thuốc Việt Nam của tác giả Võ Văn Chi, vỏ cây và hạt bình bát khi nghiền nát sử dụng có tác dụng làm săn da, sát trùng… thường dùng trong chữa trị tiêu chảy, kiết lỵ và làm thuốc sát trùng. Dịch lá dùng trừ chấy.

Bên cạnh đó, các phân tích hóa học xác định: Lá, vỏ thân và hạt bình bát có các acetogenin, trong đó squamocin có độc tính với côn trùng. Vỏ thân và vỏ rễ có các alcaloid, trong đó anomontin có độc tính đáng kể đối với tế bào.

Các nghiên cứu, ứng dụng trong y học tùy bộ phận sử dụng của cây bình bát sẽ có các tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, có tác dụng chữa lỵ và nhiễm khuẩn hô hấp. Tác dụng độc với tế bào trên các dòng tế bào ung thư phổi, ung thư kết tràng, ung thư mũi hầu ở người.

Toàn cây bình bát có vị chát, có độc đặc biệt là hạt và vỏ thân. Quả xanh có tác dụng chữa sốt, nhiễm khuẩn hô hấp, trừ lỵ, trị giun. Kinh nghiệm dân gian còn cho rằng, nếu ăn nhiều trái bình bát chín sẽ trị được chứng thiếu máu, huyết trắng ở phụ nữ.

Trường An
(Theo Tuổi Trẻ & Đời Sống)
Tâm Sự Gia Đình