Khoa học -

Cuộc đời vinh quang nhưng không ít biến động qua cách số “Bạch khuê hữu ích” của Đinh Tiên Hoàng đế

(Tamsugiadinh.vn) - Chiêm ngưỡng lá số tử vi của Đinh Tiên Hoàng đế, ta sẽ thấy thêm những khía cạnh cuộc đời và sự nghiệp của ông, và những éo le, biến động của nhà Đinh trong lịch sử.
Cuộc đời vinh quang nhưng không ít biến động qua cách số “Bạch khuê hữu ích” của Đinh Tiên Hoàng đế
Cuộc đời vinh quang nhưng không ít biến động qua cách số “Bạch khuê hữu ích” của Đinh Tiên Hoàng đế

Mở đầu tập “Sấm ký Trạng Trình” nổi tiếng, nhà tiên tri Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hạ bút: “Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước/ Đã bao lần ngôi nước đổi thay/ Núi sông thiên định đặt bày/ Đồ thư một quyển xem nay mới rành...”. Cuốn “đồ thư” mà ông muốn nói, chính là Thiên thư (sách Trời), là cuốn “sách ước” mang khí phách độc lập, tự chủ trong lịch sử dựng nước và giữ nước ngàn năm của người Việt.

Thủa xa xưa ấy, thời Bắc thuộc đằng đẵng 1000 năm chấm dứt với chiến công của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền, nhưng Đinh Tiên Hoàng đế mới chính là người sáng lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên.

Trong chính sử, ông được tôn xưng là người mở nền chính thống của các triều đại phong kiến trong một đất nước thống nhất - trên nền tảng trước đó là chế độ phong kiến phân quyền, cát cứ và phân tán.

Lá số tử vi của ông, do đó cũng thật đặc biệt. Chiêm ngưỡng lá số ấy, ta sẽ thấy thêm những khía cạnh cuộc đời và sự nghiệp của Đinh Tiên Hoàng đế, cũng lý giải được phần nào những éo le và biến động trong quãng thời gian tồn tại ngắn ngủi của nhà Đinh trong lịch sử.

Cách số “Bạch khuê hữu tích”…

Trong môn Tử vi, cách số này dành cho đấng anh hào mang chân mệnh Đế vương, đầy hùng tâm tráng chí, nhưng sự nghiệp cuối cùng chưa được toàn vẹn. Chữ “khuê” với nghĩa là ngọc tỉ của Hoàng đế khi thiết triều, chữ “tích” là vết tích. Đây ví như viên ngọc khuê màu trắng còn có vết, chưa hoàn thiện trọn vẹn. Sự khai sáng và công đức của Đinh Tiên Hoàng đế thật huy hoàng và lớn lao nhưng không được lâu bền, phải chăng phần nào chính là vì lẽ ấy?

Về chuyện này, sách Đại Việt sử ký tiền biên chép: “Thời vua còn hàn vi, thường đánh cá ở sông Giao Thủy, khi kéo lưới được viên ngọc khuê to, nhưng bị sứt mất một góc.

Đêm ấy vào ngủ nhờ ở chùa Cổ Lễ (Nam Định), viên ngọc giấu ở đáy giỏ phát sáng, rực cả một góc chùa. Nhà sư trụ trì mới gọi dậy mà hỏi duyên cớ, vua đành nói thực mà lấy thỏi ngọc ra. Là người tinh thông đạo pháp, nhà sư liền biết ông vốn mang chân mệnh đế vương, chỉ tiếc rằng phúc vận không bền”.

Thật đúng là “Mệnh trời đã định nẻo xưa/ Ngọc khuê dành để đợi chờ Đế vương”… nhưng rồi “Nghĩ hiềm phúc hậu chẳng bền/ Vắn dài có số tượng trời đã chia !”, như những vần thơ đã chép trong sách Thiên Nam ngữ lục.

Theo cổ sử, Đinh Bộ Lĩnh sinh đúng ngày Rằm (15/2 âm lịch) năm Giáp Thân (924), giờ Mão, ở làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Mở lá số của ông, trong tôi như lan tỏa một mối giao cảm thật kỳ diệu.

Với tam hợp mệnh mang Đế cách: Tử - Phủ - Vũ - Tướng - Liêm, người tuổi Giáp Thân (chi khắc can) phải chịu nhiều phần thiệt thòi.

Trong phép Tử vi, can Giáp ứng với quẻ Cấn - tượng là núi (Sơn), chi Thân ứng vào quẻ Khôn - tượng là đất (Địa) nên tuổi này có liên hệ với quẻ Sơn Địa Bác (quẻ Bác) trong Kinh Dịch.

Cuộc đời vinh quang nhưng không ít biến động qua cách số “Bạch khuê hữu ích” của Đinh Tiên Hoàng đế

Thủa bé, Đinh Bộ Lĩnh thường chỉ huy bọn trẻ chăn trâu lấy bông lau làm cờ hiệu, tập đánh trận giả

Đây là thời loạn lạc, rơi rụng, gốc có lớn thì quả cũng thưa thớt; về tiết khí thì ứng với cuối thu sang đông, trời đất đã đầy sương pha tuyết phủ. Cung Mệnh của ông ở cung Tý, ứng với quẻ thuần Khảm, cũng là gặp cảnh hiểm trở, vây hãm. Thật đúng là như người xưa nói: Có gian nan mới tỏ mặt anh hùng!

Điều rất hay là những cách này chỉ gây khó, chứ chẳng làm nhụt chí được người mệnh Thủy như ông: cung mệnh ở cung Thủy, ấy là được “địa lợi”, lại trong tam hợp Thủy (Thân – Tý - Thìn) là được thêm “thiên thời”.

Với cách số này, tính cách thủ lĩnh và tài chỉ huy của ông hiển lộ từ thủa bé. Ở đất Hoa Lư với bạt ngàn hoa lau (chữ “Lư” nghĩa Hán ngữ là cây lau/sậy), ông thường chỉ huy bọn trẻ chăn trâu lấy làm cờ hiệu, tập đánh trận giả. Trong những cuộc chơi ấy, lũ trẻ vẫn làm kiệu rước ông như nghi vệ thiên tử sau này.

Về phần “nhân hòa”, dễ thấy cung Mệnh này càng thêm đắc cách với người Thủy mệnh: Trong thế tam hợp Thái Tuế, ngoài bộ Liêm - Tướng đắc địa đồng cung với Thiên Khôi - Hóa Lộc, ông còn được đủ bộ Khôi - Việt và Tam Hóa (Khoa - Quyền - Lộc) chiếu mệnh; thêm bộ song Long (Long Trì - Thanh Long), Tứ Linh (Long, Phượng, Hổ, Cái) và lưỡng Tướng (Thiên Tướng - Tướng Quân), thật rõ là chân mệnh Vương đế .

Với chí khí khác thường và sự thông minh quán chúng (Thái Dương, Thái Âm sáng ở 2 cung Tỵ, Dậu), ông nhanh chóng chiêu tập lực lượng, thu phục nhân tài và các anh hùng nghĩa sĩ, hào kiệt khắp nơi để mưu nghiệp lớn.

Chính bối cảnh tranh tối tranh sáng trong thời “loạn 12 sứ quân” ấy là thời đắc cách của ông. Với uy danh lừng lẫy, ông đánh đâu thắng đó dẹp tan các sứ quân cát cứ ở khắp nơi, được quân sĩ và dân chúng tôn xưng là Vạn Thắng Vương chỉ sau vài năm khởi sự.

Tuy vậy, xem cung an Thân mới thấy những bất lợi và khó khăn của đời ông sau này, nhất là về hậu vận. Cung này cư Thiên Di ở Ngọ (Dương Hỏa), có Phá Quân đắc địa ngộ Tuần. Vậy là với người mệnh Thủy, tuy khắc chế được bối cảnh sống (khắc xuất), nhưng cũng phải chịu nhiều nỗi gian nan.

Về “địa lợi”, cung an Thân hành Hỏa, cũng trong tam hợp Hỏa (Dần - Ngọ - Tuất) - vậy là phần “thiên thời” ông cũng phải nỗ lực tranh đoạt, chịu nhiều phần cay đắng thì mới thành đại nghiệp.

Năm Mậu Thìn (968), khi tiểu vận trùng đúng vào cung an Thân, ông lên ngôi Hoàng Đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Ông lấy hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế - coi mình ngang hàng và độc lập với các Hoàng đế phương Bắc. Khi ấy ông 44 tuổi, vào đầu Đại vận Thái tuế (42 - 51 tuổi) ở cung Thìn. Cung này, biểu tượng là con rồng nên còn gọi là “Long cung”, là chính vị của người có chân mệnh vương đế.

Với bộ sao Vũ Khúc miếu địa đi cùng Hóa Khoa, chủ cho người văn võ song toàn, có cương có nhu, tuy nghiêm khắc nhưng rất trọng thị tri thức và văn hóa… thời kỳ này ông đã thiết lập và thực thi nhiều cải cách sáng tạo trong việc trị vì đất nước.

Cuộc đời vinh quang nhưng không ít biến động qua cách số “Bạch khuê hữu ích” của Đinh Tiên Hoàng đế

Tượng thờ Đinh Tiên Hoàng đế tại Hoa Lư

Sang đến Đại vận sau (52 - 61 tuổi) ở cung Tị (Âm Hỏa), với sao Thái Dương sáng hội Thái Âm, Thiên Lương và bộ Tả Phù - Hữu Bật, ông có nhiều quần thần đông đảo phù giúp cho sự nghiệp hưng quốc, an dân. Tuy thế, đây cũng là Đại vận Thiên Không ngộ Đào Hoa, Hóa Kỵ đầy hung hiểm, tai họa đối với người chỉ biết “cương” mà thiếu “nhu”, chỉ cầu “tiến” mà không biết “thoái” cho đúng thời.

Đại vận này của ông có sao Hỏa Tinh, cung Tật Ách lại gặp sao Linh Tinh, ứng vào cách “Thiên Không phùng Hỏa Linh, do như bán Thiên triết triệu” (sự nghiệp gãy cánh ngang trời); cũng ứng vào câu phú “Hạng Vũ anh hùng, hạn ngộ Thiên Không nhi táng quốc”(Hạng Vũ thời Hán là người anh hùng, chỉ vì vào hạn Thiên Không mà chết thảm) trong các sách Tử vi xưa.

Ông bị thích khách ám hại đúng vào đêm Trung thu, tháng 8 năm Kỷ Mão (979) khi mới 55 tuổi, lúc công cuộc chấn hưng đất nước đang còn bề bộn.

Người “Mở bản đồ, rủ áo, chấp tay”

Đây cũng là những lời cô đọng, hàm súc mà Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ca ngợi vị Tiên Hoàng Đế họ Đinh, người đã khai sáng kỷ nguyên độc lập, tự chủ cho nước Đại Cồ Việt vào thế kỷ thứ 10.

Chỉ một chữ “Mở”, đã đủ hàm nghĩa với sự nghiệp sáng lập nhà nước trung ương phong kiến tập quyền đầu tiên. Triều Đinh thành lập, cũng kết thúc thời kỳ loạn lạc cát cứ, nồi da xáo thịt đã làm tan nát và suy yếu nước Việt.

“Bản đồ” là việc đo vẽ, trấn giữ và bảo toàn bờ cõi và cương vực lãnh thổ. Cũng là ý thức tự cường tự tôn với người phương Bắc, khẳng định rằng: “Sông núi nước Nam, vua Nam ở”.

“Rủ áo”, chính là nghĩa rộng của triều nghi phẩm phục, của cơ cấu triều chính mang tính tập quyền, phân ban văn quan võ tướng, với chức phận và danh vị rõ ràng.

Còn chữ “chấp tay”, chính là nói đến nền pháp chế rõ ràng và nghiêm minh, có trên có dưới một cách mực thước và nghiêm cẩn. Đó cũng hàm nghĩa nói về việc hình pháp thực thi ngoài xã hội và kỷ luật trong việc xây dựng lực lượng quân đội. Thời ấy, quân đội nhà Đinh đã khá bài bản, với chính sách “ngụ binh ư nông” (toàn dân là lính) đầy sáng tạo.

Đến nay, sau hơn 1000 năm, người dân Hoa Lư vẫn lưu truyền câu ca: “Đặt ra có ngũ có dinh/ Có quân túc vệ, có thành tứ vi (vây)/ Trên thì bảo điện uy nghi/ Bên ngoài lại sẵn đan trì, nghi môn”, chính là nói về quang cảnh những buổi lễ thiết triều từ thời nhà Đinh xa xưa ấy. 

Tuy chỉ trị vì trong hơn chục năm ngắn ngủi (968 – 979) và nhà Đinh sau đó cũng suy tàn và chấm dứt, nhưng công đức của Đinh Tiên Hoàng đế với dân tộc và đất nước thật là lớn lao.

Ông là bậc khai quốc, là vị anh hùng dân tộc bậc nhất của người Việt. Chính trên nền tảng một đất nước thống nhất và vững mạnh ấy, vua Lê Đại Hành khi lên ngôi mới đủ sức mạnh và lực lượng đánh bại giặc Tống xâm lược, gìn giữ trọn vẹn giang sơn bờ cõi của nước Việt.

Ngày nay, ngay ở cổng vào đền thờ Đinh Tiên Hoàng đế ở cố đô Hoa Lư, ai ngước lên cũng thấy dòng đại tự “Bắc môn tỏa thược” (khóa chặt cửa Bắc) được khắc ghi từ hàng ngàn năm nay. Đã là người Việt, mang trong mình dòng máu và tâm hồn Việt Nam, hẳn ai cũng hiểu ý nghĩa sâu xa của nó. Đó chính là lời cảnh tỉnh của các bậc tiên liệt nghìn đời đã đổ bao xương máu, gây dựng nên non sông gấm vóc này.

Theo Báo Người Giữ Lửa
Tâm Sự Gia Đình