Xem bói -

Cuộc đời của “ông tổ nghề báo Việt Nam” Trương Vĩnh Ký qua cách số “con tằm rút ruột nhả tơ”

(Tamsugiadinh.vn) - Mở lá số của ông trong mối giao cảm kỳ diệu với người quá vãng, tôi như thấy được thân phận của một người mang kiếp “con tằm rút ruột nhả tơ”, mà toàn là những sợi tơ vàng óng.
Cuộc đời của “ông tổ nghề báo Việt Nam” Trương Vĩnh Ký qua cách số “con tằm rút ruột nhả tơ”
Cuộc đời của “ông tổ nghề báo Việt Nam” Trương Vĩnh Ký qua cách số “con tằm rút ruột nhả tơ”

Cách đây hơn 100 năm, ngay từ lần xuất bản đầu tiên vào năm 1905, cuốn từ điển nổi tiếng thế giới về các danh nhân của nhà xuất bản Larousse (Pháp) đã dành cho ông những lời trân trọng: “Nhà văn Việt Nam. Sáng lập ra ngành báo chí tại Việt Nam; ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm lịch sử, ngôn ngữ và dịch thuật”.

Ông được giới học thuật châu Âu thế kỷ 19 tôn xưng là một trong số “Mười tám văn hào thế giới”, cũng đứng trong hàng ngũ những người thông thạo và biết nhiều ngoại ngữ nhất thời ấy. Ông là Trương Vĩnh Ký, học giả và nhà văn hóa lớn xứ Nam Kỳ cuối thế kỷ 19.

Cũng có lúc cuộc đời ông phải nhận những ý kiến bình xét trái chiều, cực đoan và không kém phần cay đắng của hậu thế. Nhưng sự nghiệp văn hóa và những đóng góp lớn lao của ông là điều không thể tranh cãi.

Với góc nhìn dịch lý, chiêm ngưỡng lá số của ông, ta sẽ thấy thêm phần nào những góc khuất cuộc đời. Cũng thấy được phẩm cách và ưu tư của một kẻ sĩ, người đã biết bỏ qua mọi gièm pha dị nghị để dành cả cuộc đời đi tiên phong, tận tâm gieo mầm và phát triển văn hóa nước nhà.

Cách số “con tằm rút ruột nhả tơ”

Trương Vĩnh Ký (còn được gọi tắt là Petrus Ký) sinh năm Đinh Dậu, ngày 9/11 âm lịch, giờ Dậu (6/12/1837) tại làng Cái Mơn, huyện Tân Minh (cũ), tỉnh Vĩnh Long. Mở lá số của ông trong mối giao cảm kỳ diệu với người quá vãng, tôi như thấy được thân phận của một người mang kiếp “con tằm rút ruột nhả tơ”, mà toàn là những sợi tơ vàng óng.

Người giữ can Đinh (âm Hỏa) khắc chi Dậu (âm Kim), mệnh Hỏa cũng khắc thế “Cục” Hoả cho thấy nghị lực lớn của ông, khắc chế được mọi trở ngại trên đường đời. Người âm nam, mệnh Hỏa, cung mệnh ở Mão (âm Mộc) là được “địa lợi”; cung này trong tam hợp Mộc (Hợi – Mão - Mùi) sinh mệnh là được “thiên thời”. Nhưng phần “nhân hòa” bất lợi vì bị buộc trong thế “Tuế Phá - Tang Môn - Điếu Khách”, với chính tinh Thiên Phủ gặp Triệt.

Sách nói “Tuần Triệt đương đầu, thiếu niên tân khổ”, ông thiệt thòi vất vả vì mồ côi cha từ năm 8 tuổi. Tuy vậy, do Thiên Phủ là sao của tâm tính ôn nhu, trí tuệ, tài năng và nhiều phúc lộc; lại trong cái thế rất hay “Đại - Tiểu hao Mão, Dậu – chúng thủy triều đông” (muôn ngọn sóng đổ vào biển cả), nên ông gặp may mắn, có “quý nhân phù trợ”.

Ông được các giáo sĩ Tây phương đỡ đầu, nuôi cho ăn học chữ Quốc ngữ, tiếng La - tinh ở trường Công giáo từ năm 9 tuổi, cả ở Việt Nam đến Campuchia và sau đó sang Penang (Malaysia).

Cuộc đời của “ông tổ nghề báo Việt Nam” Trương Vĩnh Ký qua cách số “con tằm rút ruột nhả tơ”

Nhà báo - học giả Trương Vĩnh Ký

Đại vận sau, từ 14-23 tuổi ở cung Dần (dương Mộc) phù sinh mệnh, cũng trong tam hợp Hỏa (Dần - Ngọ - Tuất) hợp mệnh nên rất tốt. Cung này được bộ Thiên Đồng - Thiên Lương đắc cách chiếu, còn thêm Địa Không - Địa Kiếp đắc địa, Thiên Khôi nhị hợp nên ông học rất xuất sắc.

Với trí thông minh, sự sắc sảo thiên bẩm và chí phấn đấu cao, lại chịu khó tìm tòi, tự học trong một ngôi trường đa sắc tộc, nên ngoài các ngoại ngữ thông dụng như: Pháp, Anh, ông còn thông thạo rất nhiều ngôn ngữ khác: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản…

Có thể nói vào thời ấy, được du học nước ngoài cả chục năm như ông cũng là sự hiếm có. Ấy chính là sự thuận chữ “thời”, với thế được cả “thiên thời, địa lợi” trong cung Mệnh ở âm Mộc, với người âm nam, mệnh Hỏa như ông.

Xét cung an Thân, cư Thiên Di tại Dậu mới có nhiều điều đáng bàn. Người có cung Mệnh tại Mão (hướng chính Đông, âm Mộc – quẻ Chấn) mà cung an Thân tại Dậu (hướng chính Tây, âm Kim - quẻ Đoài) là trong thế đối nghịch. Kim khắc Mộc, như người xưa nói: “Chấn Đoài cương bất trường”, là phận người luôn có sự trắc trở, đứt gãy về công danh phú quý hay thay đổi căn bản về nhận thức.

Với cung an Thân đắc tam hợp Thái Tuế, ông có lòng hướng thượng cao cả, đức hy sinh vì nhân quần; nhưng trong thế nước và phận người trói buộc, nên đành chọn con đường chữ nghĩa, văn hóa, báo chí… làm cái nghiệp mà hành xử và đóng góp cho đời. Để có thành quả, cách số này đòi hỏi một ý chí và nghị lực rất lớn.

Nhưng có lẽ với ông, đóng góp bao nhiêu cũng là chưa đủ và tấm lòng mình chỉ có cõi cao xanh và hậu thế mãi sau này mới hiểu thấu. Bởi vậy, khi sắp tạ thế, ông đã dặn người nhà tạc vào bia đá đặt ở trước mộ mình câu Kinh thánh nổi tiếng bằng chữ La–tinh, được dịch là: “Xin hãy thương xót tôi, hỡi những người bạn của tôi!”.

Cung Mệnh ông được cả thế và thời, nhưng cung an Thân thì có phần trái ngược. Về “địa lợi”, cung Dậu (âm Kim) là vất vả cho người mệnh Hỏa, lại trong thế tam hợp Kim (Tỵ - Dậu - Sửu) nên nghị lực phấn đấu phải nhân lên gấp nhiều lần. Cũng may mà ông được đủ bộ Tứ Linh (Long, Phượng, Hổ, Cái), cùng đủ bộ sao văn cách: Văn Xương - Văn Khúc, Tấu Thư chiếu, hợp với sao Văn Tinh ở cung an Thân.

Cùng với cung Quan Lộc (công danh, nghề nghiệp) có sao Thiên Tướng – tượng là cây bút; cung Điền Trạch (cơ nghiệp, sự nghiệp) có Cự Môn đắc địa… nên ông chọn nghiệp văn bút là xác đáng và nổi tiếng chính bởi sự nghiệp này.

Còn giả như có bon chen theo đường danh lợi rồi cũng chẳng đi đến đâu, vì với tính cách của người Thái Tuế, trong cái thế Sát – Phá - Tham hãm ở cung an Thân, đại vận 20 năm lại đi qua toàn các cung Thủy (từ 34-53 tuổi) sẽ chỉ gặp toàn thị phi và trắc trở.

Bởi vậy, những năm tháng ấy, ông làm phiên dịch cho các cuộc thương thuyết Việt - Pháp, trong phái đoàn Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp cầu hòa (1863); Hiệu trưởng trường Thông ngôn (1866-1868).

Năm mới 28 tuổi (1865), ông làm Chủ nhiệm tờ Gia Định báo – tờ báo bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên, rồi làm giáo sư về ngôn ngữ và Đông phương học ở trường Hậu Bổ - nơi đào tạo quan lại cả nước. Trong thời gian này, với uy tín về học thuật lan đến cả châu Âu, ông giao thiệp với nhiều nhà văn hóa tinh hoa của nước Pháp. Nhưng những năm cuối đời mới là lúc ông đắc thế nhất trong nghiên cứu và dịch thuật, sáng tác, làm báo… với hàng trăm công trình có giá trị bằng chữ Quốc ngữ để lại cho hậu thế hôm nay.

Đại vận cuối đời (54-63 tuổi), ở cung Tuất (dương Thổ), mệnh Hỏa phải sinh xuất, trong cái thế Thái Dương hội thêm Thiếu Dương - Thiên Không đầy trí tuệ và sáng tạo cũng là thời ông vắt kiệt sức lực cho tâm nguyện này. Tiếc rằng ông mất sớm, lúc mới 61 tuổi, để lại bao công trình học thuật và văn hóa vẫn còn dang dở.   

Cuộc đời của “ông tổ nghề báo Việt Nam” Trương Vĩnh Ký qua cách số “con tằm rút ruột nhả tơ”

Gia Định báo - tờ báo bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên do nhà báo Trương Vĩnh Ký làm chủ nhiệm

Trọn đời với Quốc ngữ và văn hóa Việt

Bỏ qua mọi sự thiên kiến và mê chấp của người đời, cả cuộc đời Trương Vĩnh Ký đã tận tâm tận lực với việc khai phá các lĩnh vực: dịch thuật, văn học, báo chí, từ điển… bằng chữ Quốc ngữ, từ thủa thứ chữ này chưa phổ dụng trong xã hội.

Chữ Quốc ngữ, ban đầu vốn là công trình của các giáo sĩ Bồ Đào Nha từ thế kỷ 17, dùng để dạy các nhà truyền giáo, giúp họ thuận lợi hơn trong giao tiếp với lối nói của người Việt. Về sau, nhận ra sự hữu dụng và thuận tiện của nó, thứ chữ này được cải tiến và hoàn thiện dần qua hàng thế kỷ, được phổ biến trên cả nước nên được gọi là chữ Quốc ngữ.

Vào thời của Trương Vĩnh Ký, chữ Quốc ngữ mới chỉ được sử dụng hạn chế trong giới có học và một ít quan lại Nam Kỳ. Chính ông đã cùng Huỳnh Tịnh Của, sau này là Trương Minh Ký và nhiều trí thức khác có công phổ biến chữ Quốc ngữ rộng rãi trong xã hội bằng mọi phương cách, nhất là thông qua văn học, soạn từ điển và báo chí. .

Tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ chính là tờ Gia Định báo, do ông làm Chủ nhiệm, có khuôn khổ 25 x 32 cm, ra hàng tuần tại Sài Gòn. Báo phát hành số đầu vào ngày 15/4/1865 và tồn tại suốt 44 năm sau đó, đã đóng góp không nhỏ cho việc phổ biến chữ Quốc ngữ và nâng cao dân trí của người Việt trong đời sống xã hội khi ấy.

Ngoài ra, Trương Vĩnh Ký cũng cổ động, giúp thành lập nhiều tờ báo bằng chữ Quốc ngữ khác, đồng thời là cây bút chủ chốt, đa tài và hoạt động không biết mệt mỏi cho lĩnh vực còn rất mới mẻ này. Ngoài sự nghiệp báo chí, ông cũng để lại nhiều công trình có giá trị, trong nhiều lĩnh vực mà bài biết này thật không thể kể hết.

Thời ấy, dưới ách thực dân đầy tao loạn, tấm lòng yêu nước, thương dân của người trí thức ưu thời mẫn thế thật không dễ thể hiện mà không bị người Pháp hồ nghi và đàn áp. Để bảo tồn, gìn giữ tâm hồn và nòi giống Việt, họ chỉ có thể kín đáo thông qua việc phổ biến chữ viết, ngôn ngữ và kiến thức xã hội cho dân chúng khắp nơi.

Trương Vĩnh Ký và những trí thức tiến bộ thời ấy đã không ham danh lợi phú quý, gần bùn mà chẳng nhuốm mùi bùn nhơ. Họ đã khôn khéo hành xử với tâm thế “dĩ bất biến, ứng vạn biến” – miễn là tấm lòng với nước Việt, với dân Việt không bao giờ thay đổi.

Sinh ra và xuất thế trong bối cảnh nước còn nô lệ, cũng có lúc phải làm việc với người Pháp, nhưng ông vẫn kiên định cốt cách thuần Việt nhằm ra sức gieo mầm và phát triển các lĩnh vực văn hóa, ngôn ngữ và báo chí bản địa.

Đến sau này, vào đầu thế kỷ 20, chính Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và các sĩ phu yêu nước đã phát động cao trào học chữ Quốc ngữ, như một vũ khí hữu dụng cho chủ trương “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của phong trào Duy Tân.

Với cuộc đời và sự nghiệp của mình, học giả Trương Vĩnh Ký xứng đáng được tôn vinh như người gieo những hạt giống đầu tiên cho nền văn hóa, văn học và báo chí bằng chữ Quốc ngữ của nước Việt.

Theo Báo Người Giữ Lửa
Tâm Sự Gia Đình