Chuyện cảm động về người phụ nữ chờ đợi suốt nửa đời người mới được “làm vợ” liệt sĩ

Người chồng yêu dấu hy sinh trong chiến tranh ác liệt, một mình bà ở vậy lặng lẽ thờ ông. 42 năm sau ngày cưới, bà mới được về thăm quê chồng, mới chính thức được nhận làm dâu. Câu chuyện tình thời chiến ấy như một thước phim cảm động đã khiến biết bao người phải rơi nước mắt.
Chuyện cảm động về người phụ nữ chờ đợi suốt nửa đời người mới được “làm vợ” liệt sĩ
Chuyện cảm động về người phụ nữ chờ đợi suốt nửa đời người mới được “làm vợ” liệt sĩ

Chuyện cảm động về người phụ nữ chờ đợi suốt nửa đời người mới được “làm vợ” liệt sĩ

Ngôi nhà nhỏ bà Vui ở cùng mẹ đẻ

Nỗi ám ảnh về chiếc khăn tay thấm máu 

Cha mẹ đặt bà tên là Vui là để bà chẳng bao giờ phải buồn, phải khổ. Ấy vậy mà, cuộc đời bà chỉ thấy nước mắt, chỉ thấy nhớ nhung. Đã hơn 40 năm trôi qua nhưng với bà Đào Thị Vui (xã Cao Viên, Thanh Oai, Hà Nội) mọi chuyện như thể mới hôm qua. Bà Vui kể: “Ngày ấy tôi làm việc tại Nông trường Trần Phú (Nghĩa Lộ, Yên Bái) và quen chồng tôi là Lê Tiến Tửu. Chúng tôi tìm hiểu nhau một thời gian dài, mãi đến năm 1968, chúng tôi mới quyết định cưới nhau… Khi ấy, cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam đang đi vào giai đoạn nước sôi lửa bỏng. Chúng tôi cưới nhau vỏn vẹn được ba ngày thì ông ấy phải lên đường nhập ngũ”. 

Ngay sau ngày vu quy, ông Lê Ngọc Khánh - Trung đội trưởng đơn vị thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 11 trực thuộc Sư đoàn 316, Quân khu Tây Bắc, đã đến gặp vợ chồng bà. Cảm thông cho đôi vợ chồng trẻ mới cưới, vị trung đội trưởng định cho ông Tửu hoãn đợt nhập ngũ sang lần sau. Thế nhưng, thấy chiến tranh quá ác liệt, không thể vì tình riêng, ông Tửu nhất quyết nhập ngũ đúng ngày theo giấy gọi. Ông Khánh bất ngờ trước quyết định ấy, ông hỏi ý kiến bà Vui thì nhận được câu trả lời tương tự: “Ông ấy quyết thế nào tôi nghe thế ấy”.

Ông Tửu đến đơn vị nhận quân trang, khoác lên mình bộ quân phục, mang ba lô rồi lại đạp xe về nông trường với vợ. Ông bảo với bà rằng, sẽ ở cùng bà đến khi đơn vị đi qua sẽ nhập đoàn, hành quân cùng đồng đội ra chiến trường. Dẫu biết chiến tranh là khốc liệt nhưng để yên lòng chồng mình, bà Vui cố giấu nước mắt động viên chồng. Đơn vị ông hành quân sang Lào, ông là điệp báo viên vô tuyến điện cùng trung đội trưởng Lê Ngọc Khánh. Được khoảng 2 năm, đơn vị ông di chuyển xuống chiến trường Trung Lào thuộc tỉnh Xiêng Khoảng. 

Nói đoạn, bà Vui lặng lẽ lôi chiếc hộp sắt đã gỉ hoen, cẩn thận lấy ra những lá thư, di vật mà ông Tửu để lại. Bà kể: “Từ lúc ông ấy ra chiến trường, chúng tôi chỉ gặp nhau vài ba lần khi ông ấy đóng quân ở Sơn La, còn đâu chỉ liên lạc qua những lá thư thôi. Tôi nhận được lá thư cuối cùng của ông ấy vào năm 1970, cách ngày ông ấy hy sinh khoảng 2 tháng”. Mãi sau này, gặp lại được ông Khánh, bà Vui mới biết được những hoạt động của chồng mình trong chiến trường ác liệt năm xưa. 

Chuyện cảm động về người phụ nữ chờ đợi suốt nửa đời người mới được “làm vợ” liệt sĩ

 Bà Vui kể lại những tháng ngày chờ đợi, mong mỏi được về quê chồng

Vào tháng 4/1970, bộ đội chủ lực ở Xẩm Thong bị thương nặng và hy sinh rất nhiều. Đơn vị của ông Tửu phải băng rừng, vượt suối 2 ngày mới đưa được thương binh ra đến cánh đồng Mường Pốt. Khi tới nơi, ông Tửu cùng một đồng đội nữa ngồi nghỉ ngơi thì đột nhiên máy bay địch lao tới thả bom xối xả. Do quá bất ngờ, ông Tửu và rất nhiều đồng đội đã hy sinh trong trận càn bom ấy.

Ông Khánh là người may mắn sống sót, ngay trong đêm đó ông cùng đồng đội gom nhặt xác ông Tửu và những anh em khác đi chôn cất. Ông Khánh đã ôm mặt khóc rồi gọi tên đồng đội khi chứng kiến những di vật của người lính trẻ vương khắp nơi. Chiếc bật lửa, bút kim tinh, khăn tay thêu chữ “Tửu – Vui” đã đổi màu vì máu thấm. Mãi cho đến khi chiến tranh kết thúc, hình ảnh chiếc khăn tay ấy cứ ám ảnh ông, như thôi thúc ông phải tìm cho bằng được bà Vui.

Hành trình về quê chồng

Cầm tờ giấy báo tử của chồng trên tay, bà Vui như rụng rời. Nước mắt người vợ trẻ khi ấy dường như đã cạn khô. Bà căm thù chiến tranh, bà khóc vì cuộc sống vợ chồng sao quá ngắn ngủi. Lấy nhau vỏn vẹn 3 ngày, chẳng kịp về thăm nhà chồng vậy mà âm dương cách biệt. Nói đến đây, hai hàng nước mắt bỗng chảy dài trên gò má đã nhăn nhúm của người đàn bà ngoài 70 tuổi. Bà nói: “Tôi yêu ông ấy, thương ông ấy vì từ nhỏ cha mẹ không còn, phải sống cùng người chị gái. Lúc yêu nhau ông ấy qua nhà tôi, nói chuyện và xin phép bố mẹ tôi rồi. Còn tôi thì chưa được về nhà nội lấy một lần…”.

Ở nông trường, kỷ niệm với chồng cứ ùa về khiến bà đau đớn, dằn vặt chẳng yên. Bà Vui quyết định xin nghỉ việc rồi quay về quê ở cùng mẹ đẻ. Tuổi xuân, hạnh phúc như khép lại, bà một lòng đóng cửa thờ chồng. Bà được hợp tác xã tạo điều kiện cho làm công việc trông trẻ. Thời gian cứ thế trôi đi, bà chưa một lần được về quê chồng ra mắt. “Nói gì thì nói, tôi cũng là dâu nhà ấy, quê ông ấy ở mãi “huyện Đông Quan”, tỉnh Thái Bình. Tôi có nhờ vài đứa cháu và người con nuôi đi tìm nhưng không ra. Mãi sau này mới biết đó là huyện Đông Hưng chứ không phải Đông Quan”, bà Vui kể. 

Bà Vui tự hỏi, liệu về đó mọi người có tin mình là con dâu không? Rồi mọi người lại bàn ra tán vào? Rồi bà lại nghĩ hay cứ ở nhà thờ chồng là được rồi, ông ấy dưới suối vàng cũng hiểu được tâm can của mình. Nghĩ là thế nhưng nỗi ám ảnh chưa một lần được thắp hương ở bàn thờ tổ tiên quê chồng lại khiến bà day dứt. Thế rồi ước nguyện của bà Vui cũng thành hiện thực. Năm 2010, người trung đội trưởng Lê Ngọc Khánh năm nào đã cùng đoàn quy tập tỉnh Nghệ An sang Lào tìm mộ liệt sĩ Tửu và các anh em khác trong đơn vị. Chính ông là người tuyển ông Tửu vào đơn vị và cũng chính tay ông chôn cất thi hài liệt sĩ Tửu ở nghĩa trang Mường Pốt.

Chuyện cảm động về người phụ nữ chờ đợi suốt nửa đời người mới được “làm vợ” liệt sĩ

Hồ sơ liệt sĩ Tửu và bản chứng nhận kết hôn viết tay

Đại diện nghĩa trang Mường Pốt thông báo cho ông Khánh biết mộ của ông Tửu đã được quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ quốc tế Việt – Lào năm 2006. Ở đây, ông Khánh tìm được mộ ông Tửu cùng 14 đồng chí khác. Ông Khánh lại lặn lội đến Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Yên Bái, Cục Người có công (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) tìm danh sách liệt sĩ. May mắn, trong danh sách ông tìm được có tên Lê Tiến Tửu kèm nội dung “khi cần báo cho vợ là Đào Thị Vui, Thanh Oai, Hà Tây”.

Hình ảnh chiếc khăn thêu chữ “Tửu - Vui” thấm đầy máu như thôi thúc ông Khánh phải tìm cho bằng được người đàn bà tên Vui. Sau khi được chính quyền địa phương giúp đỡ, ông Khánh cũng tìm được bà Vui. Bà Vui kể: “Năm ấy, tôi vẫn không được hưởng chế độ vợ liệt sĩ do giấy tờ của chồng bị mối mọt ăn hết. Sau này ông Khánh mới giúp đỡ tìm về đơn vị công tác cũ xin xác nhận. Dần dần tôi cũng được chứng minh là vợ của ông Tửu. Nhờ vậy mà tôi được chính quyền địa phương cho hưởng chính sách trợ cấp cho thân nhân liệt sĩ”.

Kể lại câu chuyện về Thái Bình nhận họ hàng, bà Vui vẫn chưa hết xúc động. Vào tháng 7/2010, ông Khánh đưa bà Vui về xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng, Thái Bình xin gặp chủ tịch xã, bí thư xã trình bày sự việc. Bà Vui kể: “Ông Khánh đưa tôi lên UBND xã và nói với mọi người: “Tôi là Lê Ngọc Khánh, nguyên cán bộ tuyển quân đồng chí Lê Tiến Tửu và cùng đồng chí ấy sang Lào chiến đấu. Đồng chí Tửu hy sinh năm 1970, mộ đã quy tập về nước. Đây là bà Đào Thị Vui, vợ đồng chí Tửu. Giờ tôi đưa con dâu về quê hương liệt sĩ để họ hàng nhận dâu sau 42 năm kể từ khi cưới”.

Đại diện chính quyền địa phương vô cùng bất ngờ vì chưa khi nào nghe chuyện liệt sĩ Lê Tiến Tửu có vợ. Lúc ấy, bà Vui đã bước sang tuổi 65. Về nhận họ hàng sau 42 năm làm đám cưới khiến bà vô cùng bồi hồi. Buổi “ra mắt” hiếm có diễn ra tại nhà bà Lê Thị Xuân (86 tuổi, chị gái ông Tửu). Khi đại diện chính quyền giới thiệu, ông Khánh đưa đầy đủ giấy tờ báo cáo với gia đình. Bà Xuân òa khóc khi nhìn thấy em dâu mình. Bà Xuân nghẹn ngào: “Mất em trai rồi, giờ có em dâu”. Bà Xuân lập tức báo cho tất cả họ hàng, làng xóm đến chung vui. 

Trọng Ngân

(Theo Người Giữ Lửa)

loading...

    
Tâm Sự Gia Đình