Sức khỏe -

Bệnh bạch hầu khiến 3 người chết ở Bình Phước nguy hiểm thế nào

(Tamsugiadinh.vn) - Độc tố bạch hầu có tác dụng chọn lọc với cơ tim, thần kinh, thận và thượng thận do đó nếu không điều trị kịp thời, bệnh bạch hầu sẽ gây biến chứng trầm trọng cho hệ thần kinh, tim và thận.
Bệnh bạch hầu khiến 3 người chết ở Bình Phước nguy hiểm thế nào
Bệnh bạch hầu khiến 3 người chết ở Bình Phước nguy hiểm thế nào
Bệnh bạch hầu
Gần nửa tháng nay, một căn bệnh lạ xuất hiện tại 2 xã Thuận Lợi, Thuận Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước làm 3 người tử vong và hàng chục người khác phải nhập viện điều trị trong tình trạng sốt, đau họng khiến dư luận trên địa bàn vô cùng hoang mang.
Theo báo cáo của Sở Y tế Bình Phước, đến nay, trên địa bàn 2 xã Thuận Lợi và Thuận Phú có 29 trường hợp phải nhập viện trong tình trạng sốt, viêm amidan, trong đó có ba người đã tử vong, 6 người đã xuất viện, 20 người còn lại đang điều trị tại các bệnh viện trong và ngoài tỉnh. 
Kết quả kiểm tra mẫu bệnh phẩm cho thấy, tất cả các bệnh nhân này đều mắc bệnh bạch hầu.
Bệnh bạch hầu khiến 3 người tử vong và 29 người phải nhập viện tại Bình Phước
Bệnh bạch hầu là gì?
Giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thanh Bảo, khoa Vi sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM, cho biết bạch hầu là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi khuẩn bạch hầu (Corynebacterium diphtheria) gây ra. 
Vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố gây tổn thương nhiều tổ chức và cơ quan của cơ thể.
Con đường lây nhiễm của bệnh bạch hầu
Dịch bạch hầu bùng phát không theo mùa rõ rệt, chỉ cần có nguồn bệnh sẽ lây nhiễm. Khi bệnh nhân ho hoặc hắt hơi, vi khuẩn phát tán ra xung quanh theo đường không khí và lây bệnh cho người lành. 
Ngoài ra tiếp xúc qua da khi bị trầy xước cũng dẫn đến lây lan vi khuẩn bạch hầu.
Bệnh bạch hầu dễ lây qua đường hô hấp
Bất cứ người nào tiếp xúc với mầm bệnh đều có thể bị lây nhiễm. Người có khả năng miễn dịch thấp dễ bị bệnh hơn. Thông thường trẻ em từ một đến 10 tuổi dễ mắc bệnh nhiều nhất do không còn kháng thể từ mẹ truyền sang. 
Sau khoảng 2 tuần nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân có thể gây lây nhiễm cho người khác. Người mắc bệnh bạch cầu vừa khỏi bệnh có khả năng mang vi khuẩn gây bệnh từ 2 tuần đến tận vài năm.
Dấu hiệu mắc bệnh bạch hầu
Biểu hiện lâm sàng của bệnh bạch hầu giống như viêm đường hô hấp, với những triệu chứng điển hình như sốt nhẹ, đau họng, ho, khàn tiếng, chán ăn. 
Sau 2-3 ngày, xuất hiện giả mạc mặt sau hoặc hai bên thành họng, có màu trắng ngà, xám hoặc đen. Giả mạc dai, dính, dễ chảy máu. Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để phát hiện bệnh. 
Bệnh bạch hầu có biểu hiện giống viêm đường hô hấp
Bệnh nhân có thể có dấu hiệu khó thở, khó nuốt. Bệnh có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6-10 ngày. 
Trường hợp bệnh nặng không có biểu hiện sốt cao nhưng có dấu hiệu sưng to cổ, khàn tiếng, khó thở, rối loạn nhịp tim, liệt.
Vào giai đoạn nặng hơn, chất nhầy tiết ra ở mũi sẽ trở nên đặc quánh, có thể có máu, bờ môi trên xuất hiện tổn thương và đặc biệt xuất hiện mùi hôi khó chịu. 
Bệnh nhân cảm thấy khó thở hoặc khó khăn khi nuốt, suy giảm thị lực, nói lắp, hay đổ mồ hôi, tim đập nhanh hơn bình thường dù không vận động.
Biến chứng nguy hiểm của bệnh bạch hầu
Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh bạch hầu có thể gây thiệt hại trầm trọng cho thận, tim và hệ thần kinh. Ít nhất 3% trường hợp trong tổng số bệnh nhân bị bạch hầu sẽ tử vong.
Độc tố bạch hầu có tác dụng chọn lọc với cơ tim, thần kinh, thận và thượng thận. Từ đó gây viêm cơ tim, phù nề, xung huyết, gây tổn thương hệ thần kinh dẫn truyền cơ tim.
Bệnh bạch hầu nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây tổn thương nghiêm trọng tới hệ thần kinh, tim và thận
Chưa hết, bệnh còn gây thoái hóa thận, hoại tử ống thận, gây xung huyết tuyến thượng thận, chảy máu tủy và vỏ thượng thận. Khi độc tố bạch cầu gắn vào các mô tim, thận, thần kinh và thượng thận thì chắc chắn kháng độc tố bạch cầu không thể trung hòa, dẫn đến tình trạng sức khỏe bệnh nhân ngày càng trầm trọng hơn. Đặc biệt là bệnh nhân sẽ tử vong ngay lập tức do đột ngột trụy tim mạch không hồi phục.
Cơn “ác mộng” mang tên bạch hầu trong lịch sử
Vào thế kỷ 17, căn bệnh này đã gây ra rất nhiều vụ dịch gây chết người hàng loạt tại châu Âu. Tây Ban Nha gọi đây là căn bệnh “kẻ treo cổ”, còn ở Ý gọi là bệnh cổ họng.
Vào khoảng năm 1735, bệnh bạch hầu lan rộng đến các thuộc địa ở châu Mỹ, gây nên một dịch bệnh kinh hoàng. Chỉ trong vòng vài tuần, gia đình có người mắc bệnh đã bị tử vong toàn bộ.
Bệnh bạch hầu từng là cơn ác mộng trong lịch sử nhân loại bởi tỉ lệ tử vong cao
Vào năm 1921, Hoa Kỳ ghi nhận 206.000 trường hợp mắc bệnh bạch hầu và 15.520 trường hợp đã tử vong vì căn bệnh này. Trước khi có thuốc điều trị bệnh bạch hầu, một nửa số người bị bệnh bạch hầu đã phải qua đời. Tỷ lệ tử vong do mắc bệnh bạch hầu dao động khoảng 20% ở trẻ dưới 5 tuổi và người lớn trên 40 tuổi, 5-10% là đối tượng từ 5-40 tuổi.
Bắt đầu vào năm 1920, số người mắc bệnh bạch hầu giảm nhanh chóng ở Mỹ và nhiều nước khác nhờ sử dụng rộng rãi các loại vắc-xin. Tuy nhiên, căn bệnh này vẫn tiếp tục hoành hành trên toàn thế giới dù đã có vắc-xin. Vào năm 2014, Tổ chức Y tế thế giới báo cáo đã ghi nhận 7321 trường hợp mắc bệnh bạch cầu. Con số này chưa phải là thống kê đầy đủ ở các quốc gia nên có thể sẽ còn cao hơn nữa.
Phòng ngừa và xử trí bệnh bạch hầu
BS Nguyễn Thanh Bảo khuyến cáo: Đối với người nhiễm bệnh bạch hầu, cần cách ly bệnh nhân ít nhất 2 ngày sau điều trị kháng sinh thích hợp và đeo khẩu trang khi tiếp xúc. Ngoài ra cần vệ sinh phòng ở, đồ dùng cá nhân, đồ chơi… bằng dung dịch sát khuẩn.
Cho đến nay, tiêm vắc-xin là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh bạch hầu. Hiện nay trong chương trình tiêm chủng mở rộng, tất cả trẻ em sẽ được tiêm đủ 3 mũi vắc xin phối hợp 5 trong 1 phòng bệnh bạch hầu-ho gà-uốn ván-viêm gan B-viêm phổi, màng não do vi khuẩn Hib (DPT-VGB-Hib) lúc 2,3 và 4 tháng tuổi. 
Tiêm vắc-xin là cách đơn giản nhất để phòng bệnh bạch hầu
Tiêm nhắc lại vắc-xin bạch hầu-ho gà-uốn ván (DPT) khi trẻ đủ 18 tháng tuổi. Đối với trẻ ngoài 7 tuổi, phụ huynh có thể đưa đi tiêm phòng bạch hầu (mỗi mũi có thể ngừa được 5 năm) tại phòng khám bệnh Trung tâm Bệnh nhiệt đới và các sơ sở y tế dự phòng. 
Vệ sinh phòng bệnh bạch hầu bằng cách giữ cho nhà ở, nhà trẻ, lớp học phải thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng. Tại nơi có ổ dịch bạch hầu cũ cần tăng cường giám sát, phát hiện các trường hợp viêm họng giả mạc. 
Đối với bệnh nhân không may bị bệnh bạch hầu thì cần được phát hiện sớm và đưa ngay tới cơ sở điều trị để được chăm sóc và điều trị, tránh lây lan trong cộng đồng. 
Tổng hợp
(Theo Tuổi trẻ Thủ đô)

    
Tâm Sự Gia Đình