Ngôi miếu miền sơn cước và những câu chuyện rùng rợn, ám ảnh (Kỳ 1)

0
38

Tôi có một người bạn thân là họa sĩ khá nổi tiếng. Anh là người Tày, quê ở Trùng Khánh, Cao Bằng nhưng sinh sống và làm việc tại Hà Nội.

Anh là người rất mê văn chương, thích thiền, chuyên nghiên cứu về đạo Phật. Anh đặc biệt rất mê Ohso.

Mỗi khi ngồi thưởng trà, chúng tôi nói chuyện trên giời dưới bể nhưng cuối cùng, bao giờ cũng luận bàn về đạo Phật, về thế giới tâm linh huyền bí.

Biết tôi đang viết loạt phóng sự dài kỳ về nhân quả, anh rất lấy làm tâm đắc. Anh bảo: “Để tôi kể anh nghe câu chuyện xảy ra ở bản tôi cách đây dễ đến hơn 30 năm. Nó ám ảnh tôi đến độ, bây giờ, ngồi nhắm mắt lại, tôi vẫn ngỡ chuyện vừa xảy ra ngày hôm qua.

Từng tình tiết câu chuyện, tôi vẫn nhớ như in. Cũng nhờ chứng kiến toàn bộ câu chuyện này mà ngay từ hồi bé, tôi đã tin vào thế giới tâm linh, tin vào Luật nhân quả.

Nhưng thú thực, cho đến tận bây giờ, có những điều, tôi vẫn không tài nào lý giải được. Thế giới tâm linh quả là huyền bí mà khoa học hiện đại dẫu có thành tựu đến đâu cũng không thể tiếp cận, khám phá, lý giải một cách tận tường, thấu đáo”.

Ngôi miếu miền sơn cước và những câu chuyện rùng rợn, ám ảnh
Câu chuyện xảy ra đã hơn 30 năm nhưng mỗi khi nhớ lại đều ám ảnh vô cùng

Rồi anh kể một cách chậm rãi.  Giọng kể âm âm u u: Tôi sinh ra và lớn lên ở bản người Tày, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Bản tôi nghèo lắm, lèo tèo hơn chục nóc nhà.

Quanh năm ai cũng đầu tắt mặt tối mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Được cái nghèo nhưng giàu tình cảm. Mười mấy gia đình trong bản tối lửa tắt đèn có nhau. Cha tôi là giáo viên.

Các anh chị tôi đều học hành đỗ đạt, làm cán bộ Nhà nước trên huyện, trên tỉnh nên gia đình tôi xếp hàng danh giá, khá giả nhất bản.

Cha tôi có người bạn nối khố tên là C. Hai người chơi với nhau từ thuở còn cởi truồng chơi bi, chơi đáo.

Tuy không cùng dòng máu nhưng tình thương dành cho nhau chẳng khác chi ruột thịt. Có miếng gì ngon cũng san sẻ cho nhau. Bác C. nghèo truyền kiếp.

Nghèo từ đời cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, đến tận đời bác vẫn nghèo. Cũng bởi cha mẹ bác đông con. Đến khi bác lấy vợ, đẻ một lèo 5 đứa con, cả nhà vẫn sống chen chúc, chật chội trong ngôi nhà sàn ọp ẹp, cũ kỹ cùng cha mẹ với mấy anh chị em khác.

Đêm nào bác cũng sang nhà tôi uống trà, hút thuốc lào. Nhiều lần bác rầu rầu bảo: “Từ bé đến giờ, tôi chưa được một bữa ăn no, chưa được mặc một manh áo mới. Chẳng biết đến lúc chết, có được manh áo mới, bữa ăn no hay không?”.

Thương bác nghèo, cha tôi quyết định cho bác mảnh vườn ở ngay đầu bản để dựng nhà. Ngày gia đình bác chuyển sang ngôi nhà mới ở, bác sướng như người điên, lúc cười, lúc khóc.

Nhiều đêm, sướng quá không ngủ được, bác cứ đi hết từ tầng 2 nhà sàn xuống tầng 1, tay vân vê từng liếp tre, tấm gỗ.

Thỉnh thoảng, bác lại tự bấu tay mình xem mình đang tỉnh hay đang mơ. Căn nhà ấy có được, cũng là nhờ tấm lòng thảo thơm của bà con trong bản.

Người góp công, người góp của, người tặng gỗ, người cho tre, dựng cho bác căn nhà tạm. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Người nghèo, cái gì được cho chẳng quý. Nhất là khi được gom góp bởi những người đồng cảnh ngộ. Nó chứa chan bao tình.

Ngôi miếu miền sơn cước và những câu chuyện rùng rợn, ám ảnh
Dựng chuồng lợn, nhà xí gần sát nền ngôi miếu cổ linh thiêng

Ngôi nhà mới của bác C. nằm gần cây đa cổ thụ đầu bản. Thân xù xì, rễ xum xuê, tán lá xòe rợp, che phủ lên ngôi miếu cổ, được xây bằng đá, tuổi đời dễ mấy trăm năm.

Ngôi miếu tuy nhỏ, chỉ rộng chừng 10 mét vuông nhưng nổi tiếng linh thiêng. Ngày rằm, mồng một hàng tháng, đặc biệt vào ngày Tết tháng 3, tháng 7, Tết Nguyên đán, người dân bản tôi và một số bản bên, đến lễ rất đông.

Mọi người thành tâm cầu nguyện thần làng, thần núi, thần sông phù hộ độ trì cho dân bản được bình yên, làm ăn ngày càng sung túc.

Vào ngày mồng 5 Tết, cả bản mang đủ lễ vật: gà, xôi, rượu, thịt… ra miếu làm lễ tế thần. Lễ xong, mọi người rải chiếu ngay trước cửa miếu, dưới gốc đa, thụ lộc. Tiếng nói, tiếng cười râm ran. Không khí đầm ấm vô cùng.

Thế nhưng “vật đổi sao dời”. Cuộc chiến tranh biên giới xảy ra, cả bản náo loạn. Cuộc chiến vừa mới kết thúc, khắp nơi bỗng rộ lên phong trào bài trừ mê tín dị đoan. Thầy mo ở các bản bị triệu tập, tham gia học lớp cải tạo.

Ông nội tôi, một thầy mo nổi tiếng, cũng phải lên huyện cải tạo một thời gian. Ngôi miếu đá cổ đầu bản tôi bị dỡ bỏ. Hôm ngôi miếu bị đập phá, cả bản tôi buồn như có tang.

Ngôi miếu là nơi thờ các vị thần. Phá bỏ ngôi miếu, khác gì phá bỏ bàn thờ gia tiên nhà mình. Nhiều người bật khóc. Có người lo sợ điều không hay sẽ xảy ra với bản. Riêng bác C. thì mừng ra mặt.

Bác bảo cha tôi: “Cách mạng giải phóng từ bao lâu rồi mà dân bản mình vẫn cứ mụ mị, u mê. Giàu, nghèo, sướng, khổ là ở mình, do mình chứ đâu phải ở thần thánh.

Nếu cứ cầu xin thần thánh mà các ngài cho tiền cho bạc thì tôi đã giàu từ tám hoánh nào rồi chứ đâu phải sống mãi trong kiếp nghèo trên răng dưới các tút thế này”.

Cha tôi bảo: “Ông đừng ăn nói hồ đồ. Văn hóa thờ cúng tổ tiên tâm linh cũng giống như văn hóa thờ cúng tổ tiên huyết thống, đã có truyền thống tự ngàn đời. Rũ bỏ văn hóa tín ngưỡng là rũ bỏ cội nguồn tâm linh, rũ bỏ tổ tiên huyết thống. Tôi là tôi lo lắm”.

Hôm trước vừa đập bỏ ngôi miếu cổ, hôm sau, cha con bác C. đã hỳ hụi dựng chuồng lợn, nhà xí ở góc vườn, gần sát nền ngôi miếu.

Bác bảo: “Làm nhà xí dưới tán đa cổ thụ rợp mát bóng che, đi ngoài, sướng khác gì tiên”. Vét sạch tiền, vay mượn thêm anh em, họ hàng, bác xuống chợ thị trấn, mua đôi lợn giống về thả chuồng.

Lúc thả lợn vào chuồng, bác còn hơ lửa, làm phép, cầu mong cho đôi lợn hay ăn, chóng nhớn. Chị Th. con gái bác, anh Tr., con trai lớn của bác đang tuổi cập kê, dựng vợ gả chồng. Không nuôi lợn, lấy gì làm tiệc thết đãi bà con dân bản?

Ngôi miếu miền sơn cước và những câu chuyện rùng rợn, ám ảnh
Dựng xong nhà vệ sinh ở sát nền ngôi miếu, gia đình bác C. thay đổi dự dội, tai họa dồn dập giáng xuống…

Tai họa giáng xuống dồn dập

Chằm bặp suốt nửa năm giời, đôi lợn lớn nhanh như thổi. Ai cũng khen bác nuôi mát tay.

Bác C. bàn với anh Tr: “Mình nuôi cố thêm tháng nữa, bán quách đôi lợn này đi, lấy tiền, mua đàn lợn mới. Cha con mình nuôi mát tay, cứ đà này, chẳng mấy chốc, chuồng nhà mình sẽ trở thành trang trại lợn”.

Vừa bàn tính buổi sáng, buổi chiều, tự dưng hai con lợn kêu hộc lên một tiếng rồi ngã lăn quay ra đất. Bác C. nghe tiếng, hốt hoảng chạy xuống đã thấy máu từ miệng con lợn chảy ộc ra đen ngòm.

Bác kêu toáng lên. Anh Tr. vội vã chạy đến kiểm tra. Hai con lợn đã chết. Bác C. bưng mặt khóc hu hu. Của đau con xót. Bao nhiêu mồ hôi nước mắt. Bao nhiêu dự định vỡ tan. Tiếc đứt ruột ra ấy chứ.

Hai bố con vội đun nước sôi, cạo lông, làm thịt. Nhưng không hiểu sao, thịt lợn lại thâm tím từng mảng như hắc ín. Anh Tr. ứa nước mắt bảo: “Bố ơi! Thịt thâm đen thế này thì bán làm sao được?”.

Bác C. mếu máo: “Kệ! Bố cứ mang ra chợ thị trấn bán. Bán rẻ cũng được. Gỡ được đồng nào hay đồng ấy”.

Bác C. vừa rời bản lên chợ thị trấn được một lúc thì chị Th. ở nhà hóa điên. Chị là người con gái đẹp nức tiếng ở bản. Da trắng như trứng gà bóc, môi đỏ như son, tóc dài tới gót chân.

Chị cũng nổi tiếng là người hát hay. Giọng hát của chị ngọt như mía lùi, trong như tiếng suối, vang xa như tiếng đàn tính. Chị là niềm tự hào không chỉ riêng của bác C. mà của cả bản.

Biết bao chàng trai trong bản và cả bản bên mê đắm chị. Tối nào cũng mò đến chật kín chân nhà sàn nhà chị chỉ để được ngắm chị, chỉ để được nghe chị hát. Thế mà đùng một cái, chị hóa điên.

Người đầu tiên phát hiện ra chị Th. bị điên là thằng Mười con bác Phương, hơn tôi vài tuổi ở cùng bản.

Buổi chiều, nó đi chăn trâu về thì nhìn thấy chị Th. trần truồng ngồi vắt vẻo trên cành đa đầu bản. Chị vừa ngồi, vừa hát. Làn tóc mây rối bời, mắt ngây dại.

Ngôi miếu miền sơn cước và những câu chuyện rùng rợn, ám ảnh
Chị Th. con gái bác tự nhiên hóa điên, nửa tỉnh nửa mê vài ba bận…

Đang hát, chợt nhìn thấy thằng Mười, chị ngừng hát, cười ré lên. Thằng Mười sợ quá, vội chạy về bản, gọi mọi người. Cả làng nháo nhác chạy ra xem.

Nhìn thấy chị ngồi vắt vẻo trên cành đa la đà, bé bằng cổ tay người lớn, ai cũng rợn tóc gáy. Chỉ sợ cành đa bị gãy. Đám trẻ chúng tôi trèo leo như khỉ mà đâu có đứa nào dám leo ra cái cành đa bé tẹo ấy đâu.

Một số người vội chạy về nhà, tìm mấy tấm chăn, đứng giăng phía dưới cành đa chị Th. ngồi, đề phòng chị ngã. Nhưng chị Th. chẳng sợ. Chị đong đưa hai chân theo nhịp hát.

Chị ngả người sang phải, sang trái khiến cành đa rung rinh, lá rụng xào xạc. Mọi người đứng dưới sợ thót tim. Chị Hằng, bạn chị Th., hét lên: “Ngồi yên Th. ơi! Đừng cử động thế. Ngã chết tươi bây giờ. Có ai cứu bạn tôi với”.

Chị Hằng đưa ánh mắt van lơn, cầu cứu khắp lượt. Nhưng mấy chục con người đứng dưới, chẳng ai biết phải làm gì. Bởi cành đa cao chót vót ấy, lại bé bằng cổ tay thế kia, leo ra thế nào được.

Chẳng biết có phải vì nghe thấy tiếng gọi đến lạc giọng vì hoảng sợ ấy của chị Hằng không, chị Th. bỗng ngưng hát, ngó mắt nhìn xuống khắp lượt.

Chị thần người một lát rồi vươn tay, túm lấy cành đa to phía trên, chị đu người leo thoăn thoắt về phía thân cây xù xì. Nhanh như con sóc, nhoằng một cái, chị đã nhảy bịch xuống đất trước mấy chục con mắt tròn xoe ngơ ngác, kinh hãi của dân bản.

Rồi không chờ cho mọi người kịp hoàn hồn, chị chạy ào về phía lũy tre um tùm phía góc vườn nhà chị. “Rào! Rào! Rào!”. Loáng một cái, chị đã đứng chót vót giữa bụi tre.

Mời độc giả đọc trọn bộ serie truyện Những câu chuyện rùng rợn về nhân quả, nghiệp báo tại đây

Đừng bỏ lỡ

Theo Hoàng Anh Sướng
(Tuổi Trẻ Đời Sống)

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here