Phát hiện vợ mang thai với người tình, chồng có quyền ly hôn không?

0
91

Tôi kết hôn từ năm 2010 và đã có một cháu trai gần 4 tuổi. Cuộc sống của vợ chồng tôi sau đám cưới cũng khá hạnh phúc. Gia đình tôi sống trong một căn hộ riêng chứ không ở cùng bố mẹ. Do đặc thù công việc tôi thường xuyên phải đi công tác xa nhà nên vợ con hay chỉ ở nhà một mình. 

Đầu tháng 8 vừa rồi, trong khi tôi đang đi công tác trong Sài Gòn, vợ tôi báo tin đã có bầu. Tôi vui mừng khôn xiết và cố gắng thu xếp công việc xong sớm để bay ra Hà Nội đưa vợ đi khám. Khi từ phòng khám bước ra, vợ tôi thông báo cái thai được 11 tuần và được chẩn đoán là bé gái. Khỏi phải nói tôi vui mừng thế nào vì gia đình tôi đã có đủ cả nếp cả tẻ. 
 
Nhưng khi về nhà, buổi tối đi ngủ tôi chợt nghĩ ra và lăn tăn tự hỏi tại sao đứa con trong bụng vợ tôi lại đã được 11 tuần tuổi. Tôi lấy kết quả siêu âm thai của vợ vào phòng làm việc rà lại cuốn lịch đánh dấu những ngày đi công tác thì tôi phát hiện nếu tính theo tuổi thai thì thời gian ấy tôi đang công tác ở Vũng Tàu nên không thể gần gũi vợ.

Trở về phòng ngủ tôi không thể chợp mắt, cứ nằm miên man suy nghĩ về chuyện này. Có lẽ nào tôi lại bị vợ “cắm sừng” trong thời gian đi công tác chăng? Cứ tự hỏi rồi tôi lại tự trả lời rằng không thể có chuyện đó được vì vợ tôi vốn rất ngoan hiền, từ trước đến giờ luôn hết mực vì chồng vì con, có bao giờ thấy giao du với bạn khác giới đâu. 

Tôi cố gạt bỏ suy nghĩ này ra khỏi đầu bằng sự an ủi: Chắc do chu kỳ của vợ mình phập phù không đều nên khó có thể tính chuẩn thời gian thụ thai được.
  

Phát hiện vợ mang thai với người tình, chồng có quyền ly hôn không?
Tôi không thể ngờ người vợ ngoan hiền của mình lại thường xuyên quan hệ với người tình cũ khi tôi vắng nhà (ảnh ST)
 
Tuy nhiên, ngày hôm sau lúc đi đón con, trên đường từ trường về hai bố con tôi trò chuyện thì cháu khoe đợt này hay có chú B. đến nhà chơi và còn mua đồ chơi cho cháu. Điều này lại càng khiến mối nghi ngờ của tôi về việc vợ đã có người khác trong thời gian tôi công tác là có thật.
 
Không muốn để tình trạng nghi ngờ này kéo dài nữa, tôi đã nói chuyện thẳng thắn với vợ. Lúc đầu vợ tôi nhất mực chối và khẳng định 100% đứa con trong bụng cô ấy là của tôi. Nhưng khi tôi đưa ra bằng chứng ngày tôi đi công tác đối chiếu với tuổi của cái thai, rồi chuyện thằng cu lớn kể và tôi bảo sẽ xét nghiệm ADN sau khi cô ấy sinh thì vợ tôi đã thú nhận đó là giọt máu của người yêu cũ. 
 
Sự thật này như vết dao khứa sâu vào lòng tôi, khiến tôi vô cùng sốc. Cô ấy khóc lóc nói nguyên nhân là do tôi suốt ngày lao đầu vào công việc, bỏ bê mẹ con cô ấy ở nhà một mình nên cô ấy rất buồn và trống vắng.  Trong khi đó người yêu cũ lại xuất hiện, thường hẹn cô ấy ra ngoài tâm sự, động viên, an ủi khiến cô ấy ngã lòng… Cô ấy quỳ xuống chân van xin tôi tha thứ nhưng tôi thẫn thờ bỏ đi không nói lời nào.
 
Sau những ngày dằn vặt đau đớn vì bị vợ lừa dối, tôi quyết định sẽ ly hôn với vợ. Xin hỏi luật sư, trường hợp vợ mang thai với người khác nhưng tôi lại không có bằng chứng chứng minh đứa con đó không phải của mình thì tôi có được ly hôn với cô ấy không? Tôi phải làm gì để tiến hành được việc ly hôn này càng sớm càng tốt?

Luật sư Bùi Quang Hưng:

Qua câu chuyện của anh, chuyện vợ anh có quan hệ ngoài hôn nhân là rõ ràng và cô ấy đã thừa nhận. Như vậy, về mặt hành vi thì cô ấy đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. 
 
Điều 48 của Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013: “QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BỔ TRỢ TƯ PHÁP, HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÔ như sau:
 
“Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;”.

Như vậy, khi người vợ vi phạm nguyên tắc này, anh có thể làm đơn gửi tới tòa án nơi vợ chồng anh đang cư trú để yêu cầu ly hôn và với những dữ kiện như trên, tòa án sẽ chấp thuận cho anh được ly hôn với người vợ. 
 
Tuy nhiên, Điều 51.3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: 3. “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

Do đó, dù đứa bé vợ đang mang trong bụng không phải con anh thì anh vẫn phải đợi đến khi đứa con chào đời và đủ 12 tháng tuổi anh mới có quyền được ly hôn. Như vậy, vẫn còn thời gian để anh suy nghĩ về việc có quyết định ly hôn hay không.

Theo Mask

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here