Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Người tu chứng thực được vô ngã sẽ không nói xấu người khác

0
144

 – Nhà báo Hoàng Anh Sướng: Được biết, từ năm 2005 đến 2008, thiền sư và tăng thân Làng Mai đã về Việt Nam 3 lần để tổ chức hàng chục khóa tu, hàng trăm buổi pháp thoại, gặp gỡ hàng ngàn tăng ni phật tử khắp ba miền… Trong những chuyến trở về quê hương ấy, thiền sư có cảm nhận gì về con người Việt Nam?

 
– Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Tôi có nhìn thấy được một số điều.
 
Điều thứ nhất, rất hay, là giá trị của đạo đức đích thực. Khi có giới hạnh và tình thương đích thực, mình có thể chuyển hóa được con người và xã hội. Điều này làm tôi rất phấn khởi. Có những người rất khó chịu, ngang bướng, bạo động, những người không có tình nghĩa, đa nghi, đầy hận thù, vậy mà khi mình có giới hạnh, có tình thương, mình có thể chuyển hóa được họ. 
 
Điều thứ hai, tôi thấy ở Việt Nam, nhiều người bây giờ mang hai khuôn mặt. Khi thì họ dùng cái mặt này, khi thì dùng cái mặt khác. Khi “đi với Bụt thì mặc áo cà sa” mà khi “đi với ma thì mặc áo giấy”. Nếu không có hai cái mặt đó thì họ không sống được. Rất lạ! 
 
Tôi không trách móc nhưng tôi đặt câu hỏi: Nếu sống như vậy thì đó có đích thực là một nền văn minh hay không? Tại sao mình không có khả năng, không có cơ hội cho người kia thấy được con người thật của mình? Tại sao mình phải sống với một con người giả nếu mình muốn thành công, dù là thành công trong Phật sự? Điều này làm tôi lo lắng rất nhiều. 
 
Chúng ta cần phải bao nhiêu năm mới vượt thoát tình trạng này? Chúng ta cần phải đeo mặt nạ tới bao giờ? Chính ngay trong khi làm việc Đạo, ta cũng phải đeo mặt nạ như vậy mới làm được hay sao?  Điều này làm cho tôi rất đau xót. Không phải đứng về phương diện tôn giáo mà nói mà là đứng về phương diện văn hóa. Phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp để làm gì, trong khi chúng ta không sống được với nhau như những con người chân thực? 
 
Vì vậy chỉ có một câu trả lời duy nhất thôi: Đó là phải tu, phải có đạo đức chân thực. Có đạo đức chân thực, có tình thương chân thực thì mình và con cháu mình sẽ có khả năng sống thật, không cần phải đeo mặt nạ. Trong tình trạng hiện tại, không đeo mặt nạ thì không thể sống được.
 
Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Người tu chứng thực được vô ngã sẽ không nói xấu người khác
Có đạo đức chân thực, tình thương chân thực thì mình và con cháu sẽ có khả năng sống thật

– Thế còn về “tâm đạo” của người Việt, thiền sư có nhận xét gì?
 
– Tôi nhận thấy rằng tâm đạo của người Phật tử Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn, từ Bắc cho tới Nam. Tâm đạo đó là một nguồn năng lượng rất lớn và nếu chúng ta khai thác được, ta có thể xây dựng một nếp sống rất đẹp vì có tình người, có văn hóa và đạo đức. Nhưng trong cách thức hành đạo, tôi nhận thấy ở Việt Nam, chúng ta chưa khai thác được nguồn năng lượng tâm đạo vĩ đại đó để xây dựng lại cơ cấu gia đình, để làm mới con người, hay để chữa lành những thương tích của chiến tranh, của nghi ngờ, sợ hãi. 
 
Chúng ta chỉ khai thác được một phần nhỏ để xây dựng cơ sở, để tạo ra những hình thức sinh hoạt có tính cách bề ngoài. Chúng ta đang bị cuốn theo cơn lốc quá bận rộn, không có thì giờ ngồi lại để tìm ra những phương pháp giải cứu tình trạng khó khăn hiện nay. Tôi nhận thấy cách tổ chức tu tập, cách học, cách tu của chúng ta còn rất hình thức. Những sinh hoạt của chúng ta có thể xoa dịu một ít khổ đau trên bề mặt nhưng sự học và thực tập của chúng ta chưa có khả năng đào sâu để đi tới sự trị liệu và chuyển hóa.
 
– Xin thiền sư nói rõ thêm ý này!
 
– Sự vật vốn vô thường. Cái gì cũng thay đổi. Tâm người, sự vật cũng thay đổi. Nhưng có một cái hình như không thay đổi, đó là tâm đạo của người Phật tử Việt Nam. Tâm đạo ấy vẫn còn y nguyên như xưa, vẫn có sự tha thiết thương yêu nền đạo đức tâm linh truyền thống.
 
Trước đây, vào khoảng những năm 1930-1940, có nhiều thanh niên Việt Nam đã lìa bỏ gia đình để đi làm cách mạng. Trái tim họ rất trong sáng. Bản chất của cuộc cách mạng là giành độc lập cho đất nước, cho dân tộc, rất đẹp. Có biết bao nhiêu người trẻ đã anh dũng ngã xuống trên chiến trường. Nhưng tinh thần đó, trái tim đó, cái đẹp đó, cách đây mấy năm, khi trở về nước, tôi không còn thấy nhiều trái tim thơm ngát và trong sáng đó nữa.
 
Tôi đã từng mang một trái tim đẹp như thế đi vào cuộc đời. Khi xuất gia, mình đi theo con đường lý tưởng của Đức Thế Tôn ngày xưa. Đức Thế Tôn cũng có một gia đình, cũng có một địa vị lớn, cũng có người thân yêu. Thấy đất nước, nhân loại không có nẻo thoát, nên Người đã bỏ hết tất cả để đi tìm. Trái tim đó là Bồ Đề Tâm. Khi trở về Việt Nam, tôi thấy biết bao nhiêu là tăng ni đã đánh mất Bồ Đề Tâm của mình, do những hư hỏng xảy ra trong xã hội.
– Ở Việt Nam bây giờ, nhiều người xuất gia được coi như là những người đang làm ăn, đang có một “cái nghề”, nên cái tối đa họ làm được chỉ là những ngôi chùa lớn, hay một chức vụ nào đó trong giáo hội. Và vì thế, tình trạng đố kỵ, tị hiềm giữa các nhà sư, thượng tọa này nói xấu hòa thượng kia. Rồi chuyện phân bổ về chùa này, chùa nọ. Làm thế nào để giải quyết những chuyện trái đạo nhức nhối đó? Làm sao để giúp người dân cảm nhận sự mực thước, trong sáng của đạo Phật? 
 
– Như tôi đã nói, đi tu cũng có thể thành công hay thất bại. Nếu gặp thầy giỏi, đoàn thể tu tập giỏi thì có cơ hội thành công dễ dàng hơn. Nếu không gặp được minh sư thì rất dễ thất bại. Khi xuất gia, mình không sống đúng theo luật nghi thì cũng thất bại. 
 
Những người Phật tử thấy một thầy ra thuê nhà ở riêng thì phải biết rằng họ đang làm sai với giới luật của đạo Phật. Nếu mình để họ như vậy và yểm trợ, rồi tìm tới với họ không phải để học hỏi giáo lý, để tu tập mà để có một sự thỏa mãn về tình cảm là hại cho người xuất gia đó. Đạo Phật là đạo thực tập vô ngã, không có cái ta riêng biệt, người kia cũng là mình. 
 
Người Phật tử mà nắm được tuệ giác vô ngã thì không thấy cha với con là hai người riêng biệt, mà hiểu trong cha có con, trong con có cha, con là sự tiếp nối của cha. Nếu cha đau khổ thì con đau khổ, con hạnh phúc thì cha hạnh phúc, thấy được đau khổ của cha là đau khổ của chính mình, hạnh phúc của con là hạnh phúc của chính mình. 
 
Người tu chứng thực được vô ngã thì sẽ không nói xấu những người khác, không cho mình là nhất. Thấy một vị xuất gia, thượng tọa, hòa thượng mà dương dương tự đắc thì thấy tội nghiệp cho họ vì đã tu bao nhiêu năm mà chưa chứng được tuệ giác vô ngã. Điều này áp dụng cho giới xuất gia cũng như tại gia. Vấn đề là làm thế nào để có được minh sư, mở được những môi trường để người tu tập có thể thành công. Vì ý chí muốn tu học là chuyện khác, thành công là chuyện khác. Ý chí không thì không đủ. 
 
Kỳ tới: Ta không thể tách rời đạo Phật ra khỏi sự sống bởi đạo Phật là sự sống
Nhà báo Hoàng Anh Sướng

Nhà báo Hoàng Anh Sướng:

Theo Báo Tuổi trẻ & Đời sống

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here